Thủy ngân fulminat
|
Thủy ngân fulminat Cấu trúc hóa học |
|
| mercury (II) oxidoazaniumylidynemethane Tên quy định IUPAC |
|
| Công thức hóa học | Hg(ONC)2 |
| Phân tử gam | 284,624 g/mol |
| Nhạy nổ với va chạm | Cao |
| Nhạy nổ với ma sát | Cao |
| Mật độ | 4,43 g/cm³ |
| Tốc độ truyền nổ | 4.250 m/s |
| Tương đương TNT | ? |
| Điểm nóng chảy | N/A |
| Điểm phát nổ | 150 °C |
| Bề ngoài | Rắn, màu xám |
| Số CAS | 628-86-4 |
| PubChem | 12359 |
| SMILES | [C-]#[N+][O-].[C-] #[N+][O-].[Hg+2] |
Fulminat thủy ngân (Hg(ONC)2) là một chất nổ, có độ nhạy nổ cao, được sử dụng để mồi nổ. Nó rất nhạy nổ với ma sát và va đập cơ khí. Nó sử dụng chủ yếu như là một chất gây nổ cho thuốc nổ khác trong các kíp nổ và các trạm truyền nổ.
Ngày nay, Fulminat thủy ngân có xu hướng được thay bởi các chất gây nổ khác ít độc hại hơn và ổn định hơn như: azide chì, styphnate chì và các dẫn xuất của tetrazene.
Việc pha chế [sửa]
Fulminate thủy ngân được pha chế bằng cách trộn thủy ngân vào axít nitric và thêm ethanol để hòa tan. Lần đầu tiên nó được bào chế bởi Edward Charles Howard năm 1800.[1]
Fulminat bạc cũng có thể bào chế theo cách tương tự như vậy, nhưng chất này thậm chí còn nhạy nổ hơn cả Fulminat thủy ngân. Nó có thể nổ ngay cả ở trong môi trường nước.
Liên kết ngoài [sửa]
Tham khảo [sửa]
- ^ Edward Howard (1800). “On a New Fulminating Mercury.”. Philosophical Transactions of the Royal Society of London 90 (1): 204–238.