Thiên kiến xác nhận

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thiên kiến xác nhận (còn gọi là thiên kiến (thiên lệch) khẳng định là một khuynh hướng của con người ưa chuộng những thông tin nào xác nhận các niềm tin hoặc giả thuyết của chính họ.[Note 1][1] Con người biểu hiện thiên kiến này khi họ thu thập hoặc ghi nhớ thông tin một cách có chọn lọc, hay khi họ diễn giải nó một cách thiên vị. Ảnh hưởng của thiên kiến xác nhận mạnh hơn đối với các vấn đề liên quan tới cảm xúc, hoặc những đức tin đã ăn sâu vào tâm thức. Người ta cũng có xu hướng diễn dịch bằng chứng không rõ ràng để ủng hộ cho lập trường có sẵn của họ. Sự tìm kiếm bằng chứng, giải thích và ghi nhớ một cách thiên vị cũng được viện dẫn để giải thích phân cực thái độ (khi bất đồng trở nên cực đoan hơn mặc dù các bên khác nhau đều tiếp xúc với cùng một bằng chứng), tín điều cố chấp (khi những tín điều vẫn tồn tại ngay cả khi bằng chứng rằng nó sai lầm đã được đưa ra), hiệu ứng ưu tiên phi lý (sự tin tưởng hơn vào thông tin nhận trước trong một loạt thông tin), tương quan ảo tưởng (khi người ta nhận thức một cách sai lầm về mối tương quan giữa hai sự kiện hoặc tình huống).

Một loạt các thử nghiệm trong những năm 1960 đề xuất rằng con người có xu hướng thiên vị những gì xác nhận niềm tin hiện có của họ. Nghiên cứu sau đó đã giải thích lại những kết quả này như một khuynh hướng kiểm tra ý niệm một chiều, tập trung vào một khả năng và bỏ qua những cái khác. Trong một số tình huống, khuynh hướng này có thể làm lệch lạc kết luật của con người. Các giải thích về những thiên lệch quan sát được bao gồm suy nghĩ mong ước và năng lực xử lý thông tin hạn chế của con người. Một cách giải thích khác cho rằng con người thể hiện thiên kiến xác nhận bởi vì họ đang cân nhắc kỹ lưỡng cái giá của sự sai lầm, hơn là thẩm xét một cách trung lập và khoa học.

Những thiên kiến ​​xác nhận góp phần gây nên sự tự tin quá mức vào niềm tin cá nhân và có thể duy trì hoặc tăng cường những niềm tin đó khi đối mặt với bằng chứng trái chiều. Quyết định sai lầm do những thiên kiến này ​​đã được thấy trong các bối cảnh chính trị và tổ chức.[2]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Những thiên kiến ​​xác nhận là những hiệu ứng trong quá trình xử lý thông tin, khác biệt với hiệu ứng hành vi xác nhận còn được gọi là "lời tiên đoán tự hoàn thành", tức là kỳ vọng của con người ảnh hưởng đến hành vi của họ để làm cho kỳ vọng đó trở thành sự thật.[3] Một số nhà tâm lý học sử dụng thuật ngữ "thiên kiến xác nhận" để chỉ bất cứ cách thức nào mà con người chống lại việc từ bỏ một niềm tin, cho dù bằng cách tìm kiếm bằng chứng, giải thích, hoặc nhớ lại nó. Những nhà tâm lý học khác thì giới hạn thuật ngữ này chỉ có nghĩa là sự quy tập bằng chứng có chọn lọc.[4]

Tìm kiếm thông tin thiên vị[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ một người đàn ông ngồi ở bàn viết
Thiên kiến xác nhận từng được mô tả như là một "yes man" (người luôn đồng ý với chủ nhân của mình) trong nội tâm mỗi người, và ủng hộ mù quáng niềm tin của người này như nhân vật Uriah Heep của Charles Dickens.[5]

Các thử nghiệm đã nhiều lần phát hiện ra rằng con người có khuynh hướng phân tích các giả thuyết một cách phiến diện, bằng cách tìm kiếm bằng chứng phù hợp với giả thuyết mà họ tin tưởng tại một thời điểm nhất định.[6][7] Thay vì xem xét qua tất cả các bằng chứng có liên quan, thì họ lại đặt ra các câu hỏi được diễn đạt để có một câu trả lời khẳng định, ủng hộ cho giả thuyết của họ.[8] Họ tìm kiếm những kết quả mà họ mong đợi nếu giả thuyết của họ là đúng, chứ không phải là những gì sẽ xảy ra nếu nó sai.[8] Ví dụ, một người đang thử xác định một con số bằng cách sử dụng câu hỏi đúng/sai và khi nghi ngờ con số cần xác định là số 3 thì người đó có thể sẽ hỏi "đó là số lẻ?". Người thích loại câu hỏi như thế này được gọi là "phép thử khẳng định", ngay cả khi phép thử là phủ định, chẳng hạn như người đó hỏi "đó là số chẳn phải không?" thì cũng sẽ mang lại chính xác cùng một thông tin.[9] Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là con người tìm kiếm những phép thử mà họ chắc chắn sẽ cho ra một câu trả lời khẳng định. Trong các nghiên cứu, khi đối tượng có thể được chọn một trong hai phép thử là giả lập hoặc xác thực, thì họ ưu tiên chọn phép thử xác thực.[10][11]

Việc ưu tiên cho các phép thử khẳng định tự thân nó không phải là một thiên kiến, vì các phép thử khẳng định có thể cung cấp nhiều thông tin hơn.[12] Tuy nhiên, kết hợp với các kết quả khác, thì cách chọn phép thử này có thể dẫn đến sự củng cố niềm tin hoặc giả định hiện có, bất chấp vào những phép thử đó là đúng hay sai.[13] Trong những tình huống thực tế, bằng chứng thường phức tạp và rối rắm. Ví dụ, khi ta có nhiều quan niệm mâu thuẫn với nhau về một người nào đó, thì những quan niệm này có thể được xác định lại bằng cách ta chỉ tập trung vào một khía cạnh duy nhất của hành vi người đó.[7] Vì thế, việc tìm kiếm bằng chứng để ủng hộ cho giả thuyết sẽ có khả năng thành công.[13] Một sự minh họa cho điều này, đó là cách diễn đạt câu hỏi có tính chất gợi ý để thay đổi câu trả lời.[7] Ví dụ, khi người ta hỏi "cuộc sống của bạn có hạnh phúc không?" thì sẽ nhận được câu trả lời "hài lòng" nhiều hơn là khi hỏi "cuộc sống của bạn có bất hạnh không?".[14]

Diễn giải thiên vị[sửa | sửa mã nguồn]

"Những người thông minh lại tin những điều kỳ cục bởi vì họ thành thạo trong việc bảo vệ những niềm tin mà họ bám vào do những lý do không thông minh."

Michael Shermer[15]

Thiên kiến xác nhận không giới hạn trong tập hợp những bằng chứng. ngay cả hai người có cùng thông tin thì cách cách họ diễn dịch thông tin đó vẫn có thể bị thiên lệch.

Một nhóm ở Đại học Stanford đã tiến hành một thí nghiệm mà những người tham gia có cảm giác mạnh về án tử hình, một nửa tán thành còn nửa kia chống lại hình phạt này.[16][17] Mỗi người tham gia được cho đọc bản mô tả hai nghiên cứu: một bản so sánh các bang của Hoa Kỳ có và không có án tử hình, và một bản so sánh tỉ lệ các vụ giết người ở một bang trước và sau khi đề xuất án tử hình ở noi đó. Sau đó, người ta hỏi họ liệu ý kiến của họ về vấn đề này có thay đổi. Tiếp đó, họ đọc một bản trình bày chi tiết về quy trình thực hiện những nghiên cứu đó và phải đánh giá xem liệu nghiên cứu có tính thuyết phục và có được tiến hành tốt.[16] Trên thực tế, các "nghiên cứu" đó đều là hư cấu. Một nửa số người tham gia được bảo rằng một nghiên cứu ủng hộ hiệu ứng ngăn chặn của án tử hình và nghiên cứu còn lại thì chống lại; trong khi nửa kia được thông báo những kết luận hoán đổi ngược lại.[16][17]

Những người tham gia, dù là những người ban đầu ủng hộ hay phản đối tử hình, đều thể hiện sự thay đổi thái độ chút ít theo thướng nghiên cứu đầu tiên họ đọc. Một khi họ đọc bản mô tả chi tiết, hầu như toàn bộ họ quay về quan niệm ban đàu bất kể bằng chứng đưa ra là gì, chỉ ra các chi tiết ủng hộ quan điểm của họ và làm ngờ bất cứ những gì trái ngược với nó. Các đối tượng tham gia đều mô tả nghiên cứu ủng hộ quan điểm tồn tại từ trước của họ là ưu việt hơn so với nghiên cứu mâu thuẫn với nó, theo những cách chi tiết và đặc thù.[16][18] Viết về một nghiên cứu dường như có vẻ bác bỏ hiệu ứng ngăn chặn của án tử hình, một người ủng hộ án tử hình viết, "Nghiên cứu này không xem xét một khoảng thời gian đủ dài", trong khi cũng về nghiên cứu đó người có quan điểm đối lập lại bình luận, "Không bằng chứng mạnh nào mâu thuẫn với các nhà nghiên cứu được trình bày".[16] Những kết quả này minh họa một điều rằng người ta đưa ra những tiêu chuẩn cao hơn về bằng chứng cho những giả thiết nào đi nguwocj với trông đợi thông thường của họ. Hiệu ứng này, đôi khi được gọi là "thiên kiến phản đối" ("disconfirmation bias") cũng được các thí nghiệm khác chỉ ra.[19]

Máy quét MRI cho phép các nhà nghiên cứu kiểm tra bộ não con người xử lý những thông tin không mong đợi như thế nào.

Một nghiên cứu khác về cách diễn dịch mang thiên kiến xảy ra trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2004 trên những người tham gia bộc lộ cảm giác mạnh về các ứng cử viên. Người ta đưa cho họ hai cặp tuyên bố mâu thuẫn, hoặc từ ứng cử viên Cộng hòa George W. Bush, ứng cử viên Dân chủ John Kerry hoặc một nhân vật công chúng có lập trường chính trị trung hòa. Những người tham gia cũng nhận những tuyến bố khác để làm cho sự sự mâu thuân bề ngoài có vẻ hợp lý. Từ ba mẩu thông tin, họ phải trả lời quyết định xem những tuyên bố của mỗi cá nhân có tự mâu thuẫn hay không.[20]:1948 Các đánh giá này khác nhau rất nhiều, và có xu hướng rõ rệt là các các những người tham gia diễn giải các tuyên bố từ những ứng viên mà họ không ưa là mâu thuẫn.[20]:1951

Trong thí nghiệm này, người ta tiến hành theo dõi hoạt động não của những người tham gia bằng một máy chụp cộng hưởng từ (MRI) khi họ đưa ra kết luận. Khi các thành viên đánh giá những tuyên bố mâu thuẫn của ứng viên mà họ ủng hộ, các trung tâm cảm xúc trên não của họ bị kích thích. Điều này không xảy ra với những tuyên bố của những nhân vật kia. Nhóm nghiên cứu đi đến kết luận rằng những phản ứng khác nhau đối với các tuyên boos không phải do những sai lầm lập luận chủ quan. Thay vào đó, những người tham gia đã tích cực giảm sự xung đột nhận thức sinh ra do việc đọc về hành vi phi lý hoặc đạo đức giả về ứng viên họ ủng hộ.[20][cần số trang]

Những thiên kiến trong việc diễn giải niềm tin tồn tại dai dẳng, bất kể trình độ trí tuệ của người đó ra sao. Những thành viên trong một thí nghiệm đã làm một bài kiểm tra SAT (một bài thi phục vụ cho tuyển sinh đại học ở Hoa Kỳ) để đánh giá năng lực trí tuệ của họ. Sau đó họ đọc thông tin liên quan tới nhưng quan ngại về an toàn cho một số loại ô tô, và nhóm nghiên cứu bịa ra xuất xứ của những chiếc xe đó. Những đối tượng tham gia là người Hoa Kỳ được yêu cầu đánh giá ý kiến của họ về việc liệu những chiếc xe này có nên bị cấm hay không theo thang điểm 6, "nhất định có" ứng với điểm ` và "nhất định không" là 6 điểm. Những người tham gia đầu tiên đánh giá rằng liệu họ có cho phép một chiếc xe Đức nguy hiểm trên đường phố Hoa Kỳ và một chiếc xe Hoa Kỳ nguy hiểm trên đường phố Hoa Kỳ. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng họ tin chiếc xe Đức nguy hiểm trên đất Hoa Kỳ nên bị cấm hơn (điểm số thấp hơn) là chiếc xe Hoa Kỳ nguy hiểm trên đường phố Đức. Khi xem lại kết quả bài kiểm tra SAT, người ta không thấy có sự chênh lệch nào trong trình độ trí tuệ trong mức độ các thành viên muốn cấm một chiếc xe.[21]

Cách diễn giải thiên lệch không giới hạn trong những chủ đề chịu ảnh hưởng mạnh bởi cảm xúc. Trong một thí nghiệm khác, các đối tượng tham gia nghe một câu chuyện kể về một vụ trộm. Họ phải đánh giá mức độ quan trọng bằng chứng của các mệnh đề lập luận ủng hộ hay chống lại việc một nhân vật cụ thể nào phải chịu trách nhiệm. Khi họ đặt giả thuyết rằng nhân vật đó có tội, họ đánh giá các mệnh đề ủng hộ giả thuyết đó hơn quan trong hơn là những mệnh đề mâu thuẫn.[22]

Ký ức thiên vị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay cả nếu con người thu thập và diễn giải bằng chứng theo một cách trung lập, họ vẫn có thể ghi nhớ nó một cách có lọc lựa để củng cố cho những kỳ vọng của họ. Hiệu ứng này được gọi là "hồi tưởng chọn lọc", "ký ức xác nhận" hay "ký ức truy cập thiên vị".[23] Các lý thuyết tâm lý khác nhau trong những tiên đoán về hồi tưởng chọn lọc. Thuyết "sơ đồ ý nghĩ" (schema) tiên đoán rằng các thông tin phù hợp với những kỳ vọng trước đây sẽ lưu trữ và hồi tưởng dễ dàng hơn là những thông tin không phù hợp.[24] Một vài các tiếp cận khác rằng những thông tin gây ngạc nhiên nổi bật lên và do đó không bị quên đi.[24] Các tiên đoán từ tất cả những lý thuyết này đều được xác nhận trong những ngữ cảnh thí nghiệm khác nhau, mà không có lý thuyết nào có ưu thế xác quyết.[25]

Trong một nghiên cứu, những người tham gia đọc một hồ sơ về một phụ nữ mô tả pha trộn những hành vi hướng nội và hướng ngoại.[26] Sau đó họ phải nhắc lại những ví dụ về tính hướng nội và tính hướng ngoại của người phụ nữ này. Người ta nói với một nhóm rằng mục đích của điều này là đánh giá người phụ nữ cho vị trí công việc thủ thư, còn với nhóm thứ hai rằng đó là cho vị trí rao bán bất động sản. Có sự khác biệt đáng kể giữa những gì hai nhóm này nhớ lại được, nhóm đầu (nghe nói về thủ thư) hồi tưởng nhiều ví dụ về tính hướng nội hơn và nhóm sau hồi tưởng nhiều hành vi hướng ngoại hơn.[26] Một hiệu ứng ký ức chọn cũng thể hiện trong các thí nghiệm lợi dụng sự đáng thèm muốn của các loại nhân cách.[24][27] Một trong số đó là một thí nghiệm chỉ cho một nhóm người tham gia bằng chứng rằng những người hướng ngoại thành công hơn những người hướng nội, trong khi đưa ra cho nhóm khác điều ngược lại. Trong một nghiên cứu sau đó, ngụy trang như không liên quan, người ta yêu cầu những người tham gia nhắc lại những sự kiện trong cuộc đời họ biểu lộ hoặc tính hướng nội hoặc tính hướng ngoại. Kết quả cho thấy, người trong nhóm nào cũng đưa ra nhiều ký ức liên hệ bản thân họ với loại nhân cách đáng mong muốn mô tả từ trước, và cũng nhắc lại những ký ức này nhanh chóng hơn.[28]

Một thí nghiệm khác xác nhận rằng những thay đổi trong trạng thái cảm xúc cũng có thể ảnh hưởng tới việc hồi tưởng ký ức.[29][30] Những người tham gia trong thí nghiệm này đánh giá họ cảm thấy ra sao khi lần đầu tiên họ nghe tin O.J. Simpson đã được tòa tha bổng vụ án giết người.[29] Họ mô tả các phản ứng cảm xúc của họ và sự tin tưởng liên quan tới phán quyết một tuần, hai tháng, và một năm sau vụ xử. Kết quả cho thấy rằng đánh giá của những người tham gia về chuyện Simpson có tội hay không thay đổi theo thời gian. Ý kiến về phán quyết thay đổi càng nhiều, kí ức của họ về phản ứng cảm xúc ban đầu càng kém ổn định. Khi những người tham gia nhắc lại phản ứng cảm xúc ban đầu của họ hai tháng và một năm sau, những thẩm định quá khứ rất giống với thậm định cảm xúc đương thời. Người ta bộc lộ thiên kiến "phe mình" đáng kể khi môt tả quan điểm của họ về những chủ đề gây tranh cãi. Sự hồi tưởng ký ức và sự hình thành kinh nghiệm trải qua thay đổi liên quan tới các trạng thái cảm xúc tương ứng.[21]

Người ta cũng nhận thấy thiên kiến "phe mình" có thể ảnh hưởng tới tính chính xác của hồi tưởng ký ức.[30] Trong một thí nghiệm, những người phụ nữ và đàn ông góa đánh giá cường độ nỗi buồn của họ sáu tháng và năm năm sau cái chết của bạn đời. Những nguwoif tham gia thể hiện một cảm nghiệm buồn đau lớn hơn vào thời điều sáu tháng so với năm năm. Tuy nhiên, khi những người tham gia được hỏi rằng họ nhớ vào lúc sáu tháng sau người chồng/vợ của họ mất họ đã đau buồn ra sao, cường độ nỗi buồn mà những người tham gia hồi tưởng lại tương đồng rất cao với với mức độ hiện tại của họ. Các cá nhân dường như sử dụng trạng thái cảm xúc hiện tại của họ để phân tích họ phải cảm thấy ra sao khi cảm nghiệm những sự kiện quá khứ. Nói cách khác, ký ức cảm xúc được tái cấu trúc lại bởi trạng thái cảm xúc hiện tại.[29]

Một nghiên cứu chỉ ra cách ký ức chọn lọc có thể duy trì niềm tin vào ngoại cảm như thế nào.[31] Nhóm làm thí nghiệm trình bày cho những người tin và ngoại cảm và những người không tin những mô tả về các thí nghiệm liên quan tới ngoại cảm. Một nửa của mỗi nhóm được cho biết rằng các kết quả thực nghiệm ủng hộ sự tồn tại của ngoại cảm, trong khi nửa kia cho rằng các kết quả này bác bỏ ngoại cảm. Trong một bài kiêm tra sau đó, những tham gia phải hồi tưởng lại tài liệu một cách chính xác, chỉ trư những người vốn tin vào ngoại cảm và đọc thấy bằng chứng không ủng hộ ngoại cảm. Nhóm nayyf nhớ ít thông tin hơn hẳn và vài người trong số họ nhớ nhầm những kết quả là ủng hộ ngoại cảm.[31]

Các hiệu ứng liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Phân cực thái độ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi con người với những quan điểm trái ngược diễn giải những thông tin mới một cách thiên lệch, quan điểm của họ có thể càng dịch chuyển về hướng đó. Điều này gọi là sự "phân cực thái độ" (tiếng Anh: attitude polarization).[32] Hiệu ứng này được chứng minh trong một thí nghiệm liên quan tới việc rút những quả bóng đỏ và từ một trong hai giỏ được đậy kín. Những người tham gia biết rằng một giỏ chứa 60% bóng đen, 40% bóng đỏ; ngược lại giỏ kia có 40% bóng đỏ, 60% bóng đen. Nhóm làm thí nghiệm quan sát điều gì xảy ra khi các quả bóng có màu khác nhau lần lượt được rút ra theo một chuỗi đồng đều, không thiên về khả năng giỏ nào. Sau mỗi lần một quả bóng được rút, những người tham gia trong một nhóm được hỏi nói to về quyết định của họ rằng khả năng quả bóng được rút từ giỏ nhiều bóng đỏ hay giỏ nhiều bóng đen. Những người tham gia này có xu hướng trở nên ngày càng tự tin hơn với mỗi lần rút tiếp theo-bất kể ban đầu họ nghĩ giỏ đó là nhiều bóng đen hay nhiều bóng đỏ, ước lượng của họ về khả năng tăng lên. Một nhóm khác được yêu cầu chỉ khẳng định xác suất vào cuối chuỗi rút bóng đó, thay vì sau mỗi lần rút. Nhóm này không thể hiện hiệu ứng phân cực, cho thấy rằng nó không nhân thiết xảy ra khi người đơn giản chỉ giữ quan điểm đối lập nhau, mà có lẽ là khi họ công khai nêu quan điểm đó ra.[33]

Những quan điểm mạnh mẽ trên những vấn đề như việc sở hữu súng có thể gây thiên kiến trong cách con người diễn giải một bằng chứng mới.

Một nghiên cứu ít trừu tượng hơn là thí nghiệm diễn giải thiên lệch ở Stanford trong đó những người tham gia có quan điểm mạnh về án tử hình, đã mô tả ở mục trên. 23% số người tham gia cho thấy quan điểm của họ trở nên cực đoan hơn, và sự chuyển dịch này tương hợp mạnh với quan điểm ban đầu của họ.[16] Trong các thí nghiệm về sau, người ta cũng quan sát thấy những người tham gia trở nên cực đoan hơn khi xem xét các thông tin mơ hồ. Tuy nhiên, những so sánh về thái độ của họ trước và sau bằng chứng mới không có sự thay đổi lớn, gợi ý rằng việc thay đổi này có thể không thực sự tồn tại hoặc đáng kể.[19][32][34] Dựa trên những thí nghiệm này, Deanna Kuhn và Joseph Lao kết luận rằng phân cực là một hiện tượng có thực nhưng không phải là không thể tránh khỏi, chỉ xảy ra trong một thiểu số nhỏ. Họ thấy rằng hiện tượng này bị thúc đẩy không chỉ bởi xem xét những bằng chứng hỗn hợp, mà có thể là chỉ thuần túy nghĩ về chủ đề.[32]

Charles Taber và Milton Lodge lập luận rằng kết quả của nhóm Stanford khó mà có thể lặp lại được bởi vì những lập luận sử dụng trong những thí nghiệm sau quá trừu tượng hoặc khó hiểu để gây nên một phản ứng cảm xúc. Nghiên cứu của Taber và Lodge sử dụng những chủ đề gây ra nhiều cảm xúc (ở Hoa Kỳ) là việc kiểm soát súng và thái độ phân biệt trong tuyển dụng.[19] Họ đo lường thái độ của những thành viên tham gia nghiên cứu đối với những vấn đề này trước và sau khi đọc những lập luận của mỗi bên trong tranh luận. Hai nhóm đối tượng tham gia thể hiện phân cực thái độ: những người có quan điểm mạnh từ trước về vấn đề và những người không am hiểu nhiều về chính trị. Trong một phần của nghiên cứu này, các đối tượng tham gia chọn nguồn thông tin để đọc, từ một danh sách do các nhà nghiên cứu chuẩn bị. Chẳng hạn họ có thể đo lập luận của Hiệp hội Súng trường Quốc gia (Hoa Kỳ) và Liên minh Chống Súng ngắn Brady về việc kiểm soát súng. Ngay cả khi được hướng dẫn là phải vô tư, những người tham gia có xu hướng đọc các lập luận ủng hộ quan điểm có sẵn của họ hơn là những lập luận không ủng hộ. Việc tìm kiếm thông tin thiên lệch này rất tương hợp với hiệu ứng phân cực.[19]

Người ta cũng quan sát thấy "hiệu ứng phản tác dụng" (backfire effect) tức hiện tượng là đứng trước bằng chứng chống lại niềm tin của họ, con người có thể từ chối bằng chứng đó và tin tưởng vào thành kiến ban đầu còn mạnh mẽ hơn.[35][36] Thuật ngữ này do Brendan Nyhan và Jason Reifler đặt ra.[37]

Chấp giữ niềm tin sai lầm[sửa | sửa mã nguồn]

"Nhiều niềm tin có thể sống sót qua những thách thức logic hoặc thực nghiệm mạnh mẽ. Chúng có thể sống sót và thậm chí là tăng cường bởi bằng chứng mà hầu hết những người không nhiệt tâm sẽ đồng ý về mặt logic rằng [bằng chứng đó] khiến cho những niềm tin ấy phải yếu đi. Chúng thậm chí có thể sống sót ngay cả khi những cơ sở bằng chứng ban đầu của chúng bị phá hủy hoàn toàn."

—Lee Ross và Craig Anderson[38]

Thiên kiến xác nhận cũng giúp giải thích tại sao một số người duy trì những niềm tin ngay cả khi bằng chứng ban đầu của chúng bị loại bỏ.[39] Hiệu ứng duy trì niềm tin này thể hiện trong một loạt các thí nghiệm sử dụng cái gọi là "hệ hình lật tẩy" ("debriefing paradigm"): những người tham gia đọc những bằng chứng giả ủng hộ một giả thuyết, người ta đánh giá sự thay đổi thái độ của họ rồi sau đó tiết lộ sự ngụy tạo đó một cách chi tiết. Cuối cùng người ta đo lường thái độ của họ một lần nữa để xem liệu niềm tin của họ có trở về mức ban đầu.[38]

Phát hiện chung của hệ hình này là ít nhất vài trong số niềm tin ban đầu vẫn tồn tại ngay cả khi sau khi lật tẩy hoàn toàn bằng chứng.[40] Trong một thí nghiệm, những người tham gia phải phân biệt giữa những lá thư tuyệt mệnh thật và giả. Phản hồi của nhóm làm thí nghiệm là ngẫu nhiên: nhóm nói với vài người tham gia rằng họ đã phân biệt tương đối chính xác, còn với những người khác họ nói rằng họ phân biệt sai. Ngay cả sau khi lật tẩy hoàn toàn (rằng thực ra tất cả là giả), những người tham gia vẫn chịu ảnh hưởng bởi phản hồi ban đầu. Họ vẫn nghĩ rằng họ tốt hơn hoặc tồi hơn mức trung bình trong loại công việc đó, phụ thuộc vào cách người ta đánh giá họ.[41]

Trong một nghiên cứu khác, những người tham gia đọc những bản đánh giá hiệu quả công việc của hai lính cứu hỏa, cùng với phản ứng của họ đối với một bài kiểm tra ác cảm rủi ro.[38] Dữ liệu hư cấu này được sắp xếp để thể hiện một sự tương hợp tích cực hoặc tiêu cực: một vài người được bảo rằng một lính cứu hỏa chấp nhận rủi ro sẽ làm việc tốt hơn, trong khi những người khác lại được bảo rằng người ấy sẽ làm việc kém hơn một đồng nghiệp sợ rủi ro.[42] Ngay cả nếu hai trường hợp cụ thể trên là đúng, thì chúng vẫn chỉ là bằng chứng tồi về mặt khoa học cho kết luận về lính cứu hỏa nói chung. Tuy nhiên, những người tham gia lại cảm thấy thuyết phục một cách chủ quan.[42] Khi nhóm nghiên cứu tiết lộ các trường hợp cụ thể đó chỉ là hư cấu, niềm tin của những người tham gia đó mất liên hệ với bằng chứng thực tiễn, nhưng khi đánh giá người ta thấy khoảng một nửa hiệu ứng ban đầu vẫn tồn tại.[38] Những cuộc phỏng vấn sau đó cho thấy rằng những người tham gia hiểu về việc lật tẩy và nghiêm túc xem xét nó. Họ có vẻ tin tưởng sự lật tẩy bằng chứng, nhưng xem thông tin sai lầm đó là không liên quan tới niềm tin cá nhân của họ.[42]

Ưu tiên thông tin ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều thí nghiệm đã chỉ ra rằng con người coi trọng thông tin xuất hiện sớm hơn trong một chuỗi thông tin, ngay cả khi về mặt logic thứ tự không quan trọng. Chẳng hạn, con người tạo nên một ấn tượng tích cực hơn về ai đó được mô tả là "thông tin, cần cù, bốc đồng, hay chỉ trích, ngang bướng, đố kị" hơn là cũng những từ này nhưng theo một trật tự ngược lại.[43] Hiệu ứng ưu tiên phi lý" ("irrational primacy effect") này độc lập với ký ức ưu tiên trong đó các sự vật sớm hơn trong một chuỗi các sự vật có dấu ấn ký ức mạnh hơn.[43] Sự diễn giải thiên lệch cung cấp lời giải thích cho hiệu ứng này: khi nhìn thấy bằng chứng ban đầu, người ta tạo nên một giả thuyết ảnh hưởng tới cách họ diễn dịch phần còn lại lại của chuỗi thông tin.[39]

Một thí nghiệm chứng minh sự ưu tiên phi lý sử dụng những miếng chip có màu khác nhau được cho là rút ra từ hai bình. Người ta nói với những người tham gia phân bố màu sắc của hai bình đó và họ phải ước đoán khả năng một chip cụ thể rút ra từ cái bình nào.[43] Trên thực tế, màu sắc xuất hiện theo một trật tự sắp xếp từ trước. Ba mươi lần rút đầu thiên về một bình, ba mươi lân rút sau thiên về bình kia.[39] Xét như một toàn thể thì màu sắc là trung lập, do đó theo logic thì hai bình phải nhiều khả năng như nhau. Tuy nhiên, sau sáu mươi lần rút, những người tham gia rõ rằng ưu tiên bình được gợi ý bởi ba mươi lần rút đầu.[43]

Một thí nghiệm khác chiếu slide hình ảnh về một vật thể duy nhất, ban đầu rất mờ và sau mỗi slide lại rõ hơn một chút.[43] Với mỗi slide những người tham gia phải đoán xem vật thể đó là gì. Những người tham gia mà ban đầu đoán sai vẫn duy trì niềm tin vào phán đoán của mình, ngay cả khi bức ảnh đã rơi vào tiêu cự đủ rõ để những người khác dễ dàng nhận ra nó là gì.[39]

Tương quan ảo tưởng giữa các sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tương quan ảo tưởng là khuynh hướng ghi nhận những tương quan không tồn tại trong một tập hợp dữ liệu.[44] Khuynh hướng này được phát hiện ra trong một loạt những thí nghiệm cuối những năm 1960.[45] Trong một thí nghiệm, các đối tượng tham gia đọc một tập hợp những nghiên cứu về bệnh tâm thần, bao gồm những phản ứng với Phép thử dấu mực Rorschach (một phép thử tâm lý từng rất phổ biến để kiểm tra khuynh hướng tâm thần). Họ tường thuật rằng những người đàn ông đồng tính luyến ái trong tập hợp có vẻ nhìn thấy nhiều mông, hoaauj môn hoặc các hình ảnh mơ hồ liên quan tới tính dục hơn trong các vết mực. Thực ra các nghiên cứu này là hư cấu và, trong một phiên bản của thí nghiệm này, đã được thiết kế để cho những đàn ông đồng tính luyến ái ít tường thuật dạng hình ảnh này hơn mức trung bình.[44] Trong một cuộc khảo sát, một nhóm những nhà tâm phân học có kinh nghiệm cũng thể hiện là nhìn thấy cùng những loại tương quan ảo tưởng kiểu này với đồng tính luyến ái.[44][45]

Một nghiên cứu khác ghi lại những triệu chứng ở các bệnh nhân viên khớp, cùng với điều kiện thời kiện trong giai đoạn 15 tháng. Hầu như tất cả bệnh nhân đều tường thuật rằng cơn đau của họ liên hệ với điều kiện thời tiết, mặc dù liên hệ thực tế là bằng 0.[46]

Hiệu ứng này là một loại diễn giải thiên lệch, trong đó các bằng chứng về khách quan là trung lập hoặc không ủng hộ niềm tin của người xem xét bị diễn giải thành ủng hộ niềm tin đó. Nó cũng liên quan tới các thiên lệch trong hành vi kiểm tra giả thuyết.[47] Trong việc quyết định xem liệu hai sự kiện, chẳng hạn như đau ốm và thời tiết xấu, có tương quan với nhau, con người dựa dẫm nhiều vào số trường hợp "khẳng định-khẳng đinh": chẳng hạn, số trược hợp xảy ra cơn đau và thời tiết xấu cùng lúc. Họ tương đối ít quan tâm với những loại quan sats khác (như không đau và/hoặc thời tiết tốt).[48] Điều này song hành với sự phụ thuộc vào những phép thử khẳng định trong việc kiểm tra giả thuyết.[47] Nó cũng có thể phản ánh hồi tưởng chọn lọc, trong đó người ta có cảm giác rằng hai sự kiện liên quan tới nhau bởi vì hồi tưởng những thời điểm chúng xảy ra cùng nhau dễ dàng hơn.[47]

Ví dụ
Ngày Mưa Không mưa
Đau khớp 14 6
Không đau khớp 7 2

Trong ví dụ hư cấu ở trên, những triệu chứng đau khớp có vẻ xảy ra nhiều hơn vào những ngày không mưa. Tuy nhiên, người ta có xu hướng chú tâm vào số lượng tương ddooois lớn những ngày có cả mưa lẫn triệu chứng. Bằng việc tập trung vào một ô thay vì cả 4 ô trong bảng, người ta có thể nhận thức sai mối quan hệ, trong trường hợp này là tương quan giữa mưa và triệu chứng đau khớp.[49]

Khác biệt cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quan sát không chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu của Wason về kiểm tra giả thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Phê bình của Klayman và Ha[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thích[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị, luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh cái tôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Perkins, một nhà di truyền học, đặt ra thuật ngữ "myside bias" (thiên kiến phe mình) để chỉ sự ưa chuộng phe 'của mình' trog một vấn đề nào đó. Baron 2000, tr. 195

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Plous 1993, tr. 233
  2. ^ Nickerson, Raymond S. (tháng 6 năm 1998). “Confirmation Bias: A Ubiquitous Phenomenon in Many Guises”. Review of General Psychology 2 (2): 175–220. doi:10.1037/1089-2680.2.2.175. 
  3. ^ Darley, John M.; Gross, Paget H. (2000), “A Hypothesis-Confirming Bias in Labelling Effects”, trong Stangor, Charles, Stereotypes and prejudice: essential readings, Psychology Press, tr. 212, ISBN 978-0-86377-589-5, OCLC 42823720 
  4. ^ Risen & Gilovich 2007
  5. ^ Zweig, Jason (19 tháng 11 năm 2009), “How to Ignore the Yes-Man in Your Head”, Wall Street Journal (Dow Jones & Company), truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010 
  6. ^ Nickerson 1998, tr. 177–178
  7. ^ a ă â Kunda 1999, tr. 112–115
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên baron162
  9. ^ Kida 2006, tr. 162–165
  10. ^ Devine, Patricia G.; Hirt, Edward R.; Gehrke, Elizabeth M. (1990), “Diagnostic and confirmation strategies in trait hypothesis testing”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 58 (6): 952–963, doi:10.1037/0022-3514.58.6.952, ISSN 1939-1315 
  11. ^ Trope, Yaacov; Bassok, Miriam (1982), “Confirmatory and diagnosing strategies in social information gathering”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 43 (1): 22–34, doi:10.1037/0022-3514.43.1.22, ISSN 1939-1315 
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên klaymanha
  13. ^ a ă Oswald & Grosjean 2004, tr. 82–83
  14. ^ Kunda, Ziva; Fong, G.T.; Sanitoso, R.; Reber, E. (1993), “Directional questions direct self-conceptions”, Journal of Experimental Social Psychology (Society of Experimental Social Psychology) 29: 62–63, ISSN 0022-1031  via Fine 2006, tr. 63–65
  15. ^ Kida 2006, tr. 157
  16. ^ a ă â b c d Lord, Charles G.; Ross, Lee; Lepper, Mark R. (1979), “Biased assimilation and attitude polarization: The effects of prior theories on subsequently considered evidence”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 37 (11): 2098–2109, doi:10.1037/0022-3514.37.11.2098, ISSN 0022-3514 
  17. ^ a ă Baron 2000, tr. 201–202
  18. ^ Vyse 1997, tr. 122
  19. ^ a ă â b Taber, Charles S.; Lodge, Milton (tháng 7 năm 2006), “Motivated Skepticism in the Evaluation of Political Beliefs”, American Journal of Political Science (Midwest Political Science Association) 50 (3): 755–769, doi:10.1111/j.1540-5907.2006.00214.x, ISSN 0092-5853 
  20. ^ a ă â Westen, Drew; Blagov, Pavel S.; Harenski, Keith; Kilts, Clint; Hamann, Stephan (2006), “Neural Bases of Motivated Reasoning: An fMRI Study of Emotional Constraints on Partisan Political Judgment in the 2004 U.S. Presidential Election”, Journal of Cognitive Neuroscience (Massachusetts Institute of Technology) 18 (11): 1947–1958, doi:10.1162/jocn.2006.18.11.1947, PMID 17069484, truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2009 
  21. ^ a ă Stanovich, K. E.; West, R. F.; Toplak, M. E. (2013). “Myside Bias, Rational Thinking, and Intelligence”. Current Directions in Psychological Science 22 (4): 259–264. doi:10.1177/0963721413480174. 
  22. ^ Gadenne, V.; Oswald, M. (1986), “Entstehung und Veränderung von Bestätigungstendenzen beim Testen von Hypothesen [Formation and alteration of confirmatory tendencies during the testing of hypotheses]”, Zeitschrift für experimentelle und angewandte Psychologie 33: 360–374  via Oswald & Grosjean 2004, tr. 89
  23. ^ Hastie, Reid; Park, Bernadette (2005), “The Relationship Between Memory and Judgment Depends on Whether the Judgment Task is Memory-Based or On-Line”, trong Hamilton, David L., Social cognition: key readings, New York: Psychology Press, tr. 394, ISBN 0-86377-591-8, OCLC 55078722 
  24. ^ a ă â Oswald & Grosjean 2004, tr. 88–89
  25. ^ Stangor, Charles; McMillan, David (1992), “Memory for expectancy-congruent and expectancy-incongruent information: A review of the social and social developmental literatures”, Psychological Bulletin (American Psychological Association) 111 (1): 42–61, doi:10.1037/0033-2909.111.1.42 
  26. ^ a ă Snyder, M.; Cantor, N. (1979), “Testing hypotheses about other people: the use of historical knowledge”, Journal of Experimental Social Psychology 15 (4): 330–342, doi:10.1016/0022-1031(79)90042-8  via Goldacre 2008, tr. 231
  27. ^ Kunda 1999, tr. 225–232
  28. ^ Sanitioso, Rasyid; Kunda, Ziva; Fong, G.T. (1990), “Motivated recruitment of autobiographical memories”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 59 (2): 229–241, doi:10.1037/0022-3514.59.2.229, ISSN 0022-3514, PMID 2213492 
  29. ^ a ă â Levine, L.; Prohaska, V.; Burgess, S.L.; Rice, J.A.; Laulhere, T.M. (2001). “Remembering past emotions: The role of current appraisals.”. Cognition and Emotion 15: 393–417. doi:10.1080/02699930125955. 
  30. ^ a ă Safer, M.A.; Bonanno, G.A.; Field, N. (2001). “"It was never that bad": Biased recall of grief and long-term adjustment to the death of a spouse”. Memory 9 (3): 195–203. doi:10.1080/09658210143000065. 
  31. ^ a ă Russell, Dan; Jones, Warren H. (1980), “When superstition fails: Reactions to disconfirmation of paranormal beliefs”, Personality and Social Psychology Bulletin (Society for Personality and Social Psychology) 6 (1): 83–88, doi:10.1177/014616728061012, ISSN 1552-7433  via Vyse 1997, tr. 121
  32. ^ a ă â Kuhn, Deanna; Lao, Joseph (tháng 3 năm 1996), “Effects of Evidence on Attitudes: Is Polarization the Norm?”, Psychological Science (American Psychological Society) 7 (2): 115–120, doi:10.1111/j.1467-9280.1996.tb00340.x 
  33. ^ Baron 2000, tr. 201
  34. ^ Miller, A.G.; McHoskey, J.W.; Bane, C.M.; Dowd, T.G. (1993), “The attitude polarization phenomenon: Role of response measure, attitude extremity, and behavioral consequences of reported attitude change”, Journal of Personality and Social Psychology 64 (4): 561–574, doi:10.1037/0022-3514.64.4.561 
  35. ^ “backfire effect”. The Skeptic's Dictionary. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  36. ^ Silverman, Craig (17 tháng 6 năm 2011). “The Backfire Effect”. Columbia Journalism Review. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. “When your deepest convictions are challenged by contradictory evidence, your beliefs get stronger.” 
  37. ^ Nyhan, Brendan; Reifler, Jason (2010). “When Corrections Fail: The Persistence of Political Misperceptions”. Political Behavior 32 (2): 303–330. doi:10.1007/s11109-010-9112-2. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  38. ^ a ă â b Ross, Lee; Anderson, Craig A. (1982), “Shortcomings in the attribution process: On the origins and maintenance of erroneous social assessments”, trong Kahneman, Daniel; Slovic, Paul; Tversky, Amos, Judgment under uncertainty: Heuristics and biases, Cambridge University Press, tr. 129–152, ISBN 978-0-521-28414-1, OCLC 7578020 
  39. ^ a ă â b Nickerson 1998, tr. 187
  40. ^ Kunda 1999, tr. 99
  41. ^ Ross, Lee; Lepper, Mark R.; Hubbard, Michael (1975), “Perseverance in self-perception and social perception: Biased attributional processes in the debriefing paradigm”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 32 (5): 880–892, doi:10.1037/0022-3514.32.5.880, ISSN 0022-3514, PMID 1185517  via Kunda 1999, tr. 99
  42. ^ a ă â Anderson, Craig A.; Lepper, Mark R.; Ross, Lee (1980), “Perseverance of Social Theories: The Role of Explanation in the Persistence of Discredited Information”, Journal of Personality and Social Psychology (American Psychological Association) 39 (6): 1037–1049, doi:10.1037/h0077720, ISSN 0022-3514 
  43. ^ a ă â b c Baron 2000, tr. 197–200
  44. ^ a ă â Fine 2006, tr. 66–70
  45. ^ a ă Plous 1993, tr. 164–166
  46. ^ Redelmeir, D. A.; Tversky, Amos (1996), “On the belief that arthritis pain is related to the weather”, Proceedings of the National Academy of Sciences 93 (7): 2895–2896, doi:10.1073/pnas.93.7.2895  via Kunda 1999, tr. 127
  47. ^ a ă â Kunda 1999, tr. 127–130
  48. ^ Plous 1993, tr. 162–164
  49. ^ Adapted from Fielder, Klaus (2004), “Illusory correlation”, trong Pohl, Rüdiger F., Cognitive Illusions: A Handbook on Fallacies and Biases in Thinking, Judgement and Memory, Hove, UK: Psychology Press, tr. 103, ISBN 978-1-84169-351-4, OCLC 55124398 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]