Trường phái trừu tượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nghệ thuật Trừu tượng là trào lưu hội họa đầu thế kỷ 20, vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng không thể hiện đối tượng một cách hiện thực như mắt nhìn thấy mà biểu thị những ý nghĩ, cảm xúc của nghệ sĩ về một vài nét nào đó của đối tượng. Trong nghệ thuật tạo hình, trừu tượng là sự phát huy yếu tố biểu đạt của đường nét, hình khối, màu sắc để thể hiện ý tưởng hay cảm xúc. Trừu tượng cũng tồn lại nhiều dạng: trừu tượng hình học, trừu tượng sáng tạo, trừu tượng biểu hiện...[1]

Hội họa trừu tượng giống như sự kết hợp của Lập thểDã thú, lập thể về hình khối và dã thú về màu sắc. Trừu tượng có thể xem như hệ quả tất yếu của Lập thể. Khi trường phái Lập thể đi đến thoái trào, nhiều họa sĩ Lập thể chuyển sang vẽ trừu tượng. Trong đó hai họa sĩ chuyển hướng đầu tiên là Robert DelaunayFrank Kupka.[1]

Nghệ thuật Trừu tượng xuất hiện ban đầu ở nhiều quốc gia châu Âu như Pháp, Đức, Hà Lan, Nga. Về sai nó trở thành một trào lưu quốc tế và đạt đỉnh cao vào giữa thế kỷ 20.[1]

Khởi Đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trường phái Trừu tượng là 1 trào lưu từ nước Mỹ thời Hậu thế chiến thứ 2. Đây chính là trào lưu đầu tiên đặc trưng cho nước Mỹ trong việc đạt được những sự ảnh hưởng mang tầm thế giới và đưa thành phố New York trở thành trung tâm hội hoạ Đông Âu, một vị trí từng dành cho Paris trước đó.

Dù rằng nhà phê bình nghệ thuật Robert Coates là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Trường phái trừu tượng" để gọi nền hội hoạ nước Mỹ vào năm 1946, nhưng trước đó thuật ngữ này đã được tạp chí Der Stum (tạm dịch:Cơn bão lớn) của Đức năm 1919 sử dụng để nói về Trào lưu Nghệ thuật Đức. Tại Mỹ, vào năm 1929, Alfred Barr đã dành thuật ngữ này để liên hệ những tác phẩm của danh hoạ Wassily Kandinsky.

Phong Cách[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt kỹ thuật, tiền bối của trường phái này chính là Trường phái Siêu thực, nổi bật về sự sáng tạo tự sinh và vô thức hay tiềm thức.Bức vẽ với những chấm màu lem nhem trên vải dầu để giữa sàn nhà của Jackson Pollock đã trở thành 1 phương pháp và là nguồn gốc cho những tác phẩm của André Masson, Max ErnstDavid Alfaro Siquerios. Một biểu hiện quan trọng ban đầu khác để hình thành nên một trường phái như vậy là tác phẩm của hoạ sĩ vùng tây bắc nước Mỹ - Mark Tobey, đặc biệt là những bức tranh sơn dầu "white-writing" tuy không có kích thước lớn nhưng đã cho thấy trước được cái nhìn "mọi mặt" từ bản vẽ ướt của Pollock.

Tên gọi của trường phái bắt nguồn từ sự hoà hợp giữa cảm xúc mãnh liệt,sự tiết xác của trường phái nghệ thuật Đức và óc thẩm mỹ chống sự bóng bẩy,hoa văn của những trường phái nghệ thuật trừu tượng phương Tây như chủ nghĩa tương lai,Bauhaus và trường phái Lập thể nhân tạo. Thêm nữa,nó chính là hình ảnh đại diện cho tính cách nổi loạn, vô chính phủ,cực kỳ đặc trưng và đôi khi thật hư vô. Trên thực tế, thuật ngữ này áp dụng cho bất kỳ 1 nhóm nghệ nhân nào làm việc tại New York và có phong cách sáng tác khác lạ, hoặc cho cả những tác phẩm vừa không trừu tượng vừa không biểu hiện. Trường phái "trừu tượng hành động" giàu năng lượng của Pollock khá khác biệt về mặt kỹ thuật lẫn mĩ học so với trường phái chuộng sự bóng bẩy của Willem de Kooning (qua chuỗi tác phẩm Women đầy bạo lực và kệch cỡm) và so với bảng màu trong tranh mảng màu của Mark Rothko (Rothko từ chối gọi pha cuối trong trào lưu tranh Mỹ này là trừu tượng biểu hiện và nó cũng không thường được gọi như thế).Tuy nhiên cả 3 danh hoạ đều được phân loại vào nhóm các nghệ nhân trừu tượng biểu hiện.

Chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện mang nhiều điểm tương đồng về văn phong nghệ thuật với các hoạ sĩ Nga giai đoạn đầu thế kỷ 20,có thể kể đến Wassily Kandinsky. Mặc dù tính tự sinh hay những ấn tượng về sự tự sinh tạo nên cá tính cho những tác phẩm thuộc phái trừu tượng biểu hiện nhưng đa số các sáng tạo đều được phác thảo 1 cách kỹ càng nếu vẽ ở khổ lớn. Với những bậc thầy như Paul Klee, Wassily Kardinsky, Emma Kunz và sau đó là Rothk, Barnett Newman, John McLaughlinAgne Martin, nghệ thuật trừu tượng, 1 cách hết sức rõ rang, là sự bao hàm của những ý tưởng liên quan đến tâm linh,sự vô ý thức và trí óc.

Câu hỏi Tại sao phong cách này lại chấp nhận như 1 xu hướng chi phối chủ đạo là chủ đề gây tranh cãi. Chủ nghĩa hiện thực xã hội của Mỹ là 1 xu hướng chính những năm 1930. Điều đó có được từ sự ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng và cũng bởi những thợ vẽ tranh tường Mexico như David Alfero SiqueriosDiego Rivera.Giới hạn về chính trị hậu Thế chiến II đã không còn chịu đựng được những cuộc phản đối quy mô xã hội của những hoạ sĩ này. Chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện trỗi dậy trong suốt Thế chiến II và bắt đầu được phát hiện vào đầu những năm 40 trong những triển lãm tranh tại New York như triển lãm Nghệ thuật của thế kỷ. Kỷ nguyên Chống Cộng (McCarthy era hay McCarthyism) sau Chiến tranh Thế Giới 2 là thời kỳ của cơ quan kiểm duyệt nghệ thuật, những bức tranh có chủ đề trừu tượng hay phi chính trị sẽ được xem là an toàn nhưng nếu chủ đề có liên quan đến chính trị, sự nhận định phần lớn dựa vào người trong cuộc.

Trong khi trào lưu này luôn gắn liền với hội hoạ với các hoạ sĩ như Arshile Gorky, Franz Kline,Clyffort Still, Hans Hofman, Willem de Kooning, Jackson Pollock và những tên tuổi khác,thì nó cũng tích hợp trong mình các khía cạnh nghệ thuật khác như tranh cắt dán có đại diện là Anne Ryan và điêu khắc có các thành viên quan trọng như David Smith cùng vợ Dorothy Dehner, Herbert Ferber, Isamu Noguchi, Ibram Lossaw, Theodore Roszak, Phillip Pavia, Mary Cellary, Richard Stankiewicz, Louise BourgeoisLouise Nevelson.

Nguồn gốc lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thời kỳ sơ khởi và Thế chiến 2, những nhà văn,nhà thơ,nghệ sĩ theo chủ nghĩa hiện đại cũng như các tay sưu tầm và con buôn có tiếng đã chạy khỏi châu Âu, và cũng để thoát khỏi cuộc công kích dữ dội của những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt Hitler tìm nơi trú ẩn an toàn. Nhiều người trong số không chọn cách trốn chạy đã tàn lụi. Những nhà sưu tầm và nghệ nhân đã ở lại New York thời chiến tranh đó là Hans Namuth, Yves Tanguy, Kay Sage, Max Ernst, Jimmy Ernst, Peggy Guggenheim, Leo Castelli, Marcel Duchamp, André Masson, Roberto Matta, André Breton, Marc Chagall, Jacques Lipchitz, Fernan LegérPiet Mondrian. Một vài nghệ sĩ khác,đáng chú ý là Pablo Picasso, Henri Matisse, và Pierre Bonnard vẫn tồn tại được ở Pháp. Giai đoạn hậu chiến tranh đã dấy lên ở nhiều thủ đô của châu Âu 1 sự tái thiết khẩn cấp về kinh tế, cơ sở hạ tầng và tái lập nhóm chính trị. Lúc này New York đã thay thế được Paris và trở thành trung tâm nghệ thuật của thế giới. Một thế hệ nghệ sĩ mới của New York đã bắt đầu nổi lên và thống trị nền nghệ thuật thế giới với danh xưng Những hoạ sĩ phái Biểu hiện trừu tượng.

Những năm 1940 tại thành phố New York, chiến thắng trường phái Biểu hiện trừu tượng đã được báo trước,là chiến thắng của 1 trào lưu theo chủ nghĩa hiện đại cấu thành bởi sự kết hợp giữa những bài học được rút ra từ Henri Matisse, Pablo Picasso, Joan Miró,chủ nghĩa Lập thể, chủ nghĩa Siêu thực, chủ nghĩa Dã thú và chủ nghĩa tiền-Hiện đại thông qua những giáo viên như Hans HofmanJohn D.Graham. Ta có thể thấy được sự ảnh hưởng của Graham trong các tác phẩm của Jackson Pollock, Arshile Gorky và Willem de Kooning.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Lịch sử mỹ thuật thế giới của Phạm Thị Chỉnh, trang 172. NXB Đại học Sư phạm năm 2008, giá 48 ngàn VND
Các trào lưu nghệ thuật châu Âu
Trung cổ · Phục Hưng · Trường phái kiểu cách · Baroque · Rococo · Tân cổ điển · Chủ nghĩa lãng mạn · Chủ nghĩa hiện thực · Tiền Raphael · Chủ nghĩa kinh viện · Ấn tượng · Hậu ấn tượng
Thế kỷ 20
Chủ nghĩa hiện đại · Lập thể · Chủ nghĩa biểu hiện · Trừu tượng biểu hiện · Trường phái trừu tượng · Neue Künstlervereinigung München · Der Blaue Reiter · Die Brücke · Dada · Trường phái dã thú · Tân nghệ thuật · Bauhaus · De Stijl · Art Deco · Pop art · Chủ nghĩa vị lai · Xu hướng tuyệt đỉnh · Chủ nghĩa siêu thực · Color Field · Phong cách tối giản · Trừu tượng trữ tình · Chủ nghĩa hậu hiện đại · Conceptual art