Trần Quang Khôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi sinh năm 1934 là sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,là tư lệnh lữ đoàn 3 kỵ binh- lực lượng xung kích của quân đoàn 3 và là người đã trực tiếp chỉ huy đơn vị này phòng thủ Biên Hòa trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

TIỂU SỬ[sửa | sửa mã nguồn]

- Trần Quang Khôi xuất thân trong một gia đình điền chủ ở Rạch Giá(Kiên Giang).[1]

- Ông tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt với thành tích xuất sắc- hạng 6/181 học viên và được chọn để đi đào tạo ở nước ngoài.[1]

- Ông chỉ huy Chiến đoàn 318 tham chiến tại chiến trường Cam-pu-chia trong các năm 1970-1971.

- 1972,ông tiếp tục sang Mỹ du học, đó cũng là thời điểm lực lượng xung kích Quân đoàn 3 bị giải thể và Lữ đoàn 3 kỵ binh của Khôi bị phân tán ra từng mảng nhỏ.[1]

-Tháng 7/1973, ông về nước và được Tư lệnh Quân đoàn 3 Phạm Quốc Thuần (vừa lên thay Nguyễn Văn Minh) giao cho nắm lại Lữ đoàn 3 kỵ binh ở Biên Hòa.[1]

- Được cấp trên tin tưởng, việc đầu tiên ông tiến hành là gom các đơn vị thiết giáp bị phân tán về Lữ đoàn 3 và trình Phạm Quốc Thuần phương án tổ chức lại lực lượng xung kích của quân đoàn theo mô hình từ thời Đỗ Cao Trí(chia lực lượng gồm:Thiết giáp, biệt động, pháo binh, công binh để có thể cơ động) và đến cuối tháng 3/1974 thì quân đoàn 3 thành quy củ.[1]

- Tháng 4-/1974, ở tuổi 40, ông được phong chuẩn tướng.[1]

- 28/4/1974, ông đem lực lượng thiết kỵ bí mật thâm nhập campuchia, bất ngờ đánh úp hậu cứ của quân đoàn 5(binh đoàn Chi Lăng)giải thoát cho tiểu đoàn 83 biệt động quân đang bị bao vây trong căn cứ Đức Huệ.

- Tháng 4/1975, ông chỉ huy lữ đoàn 3 kỵ binh cố thủ Biên Hòa và đánh bật nhiều mũi tấn công của quân Bắc Việt Nam khiến họ phải từ bỏ kế hoạch đánh Biên Hòa và vòng qua Biên Hòa để đánh thẳng vào Sài Gòn.

- Sáng 30-4-1975, ông quyết định kéo hết quân thủ Biên Hòa về tiếp cứu Sài Gòn.

- Sau ngày 30/4, vì là sĩ quan của chế độ cũ nên ông bị chính quyền đương nhiệm bắt và đưa đi cải tạo.[1]

-1992, ông được thả và tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ vào năm 1993.[1]

Trận Đức Huệ[sửa | sửa mã nguồn]

lực lượng phòng thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ Đức Huệ nguyên là một trại lực lượng đặc biệt của Mỹ bỏ lại nằm khoảng 56 km hướng Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt-Campuchia thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa được VNCH sử dụng để làm đồn biên phòng do tiểu đoàn 83 biệt động quân(khoảng 420 quân) trấn giữ.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội nhân dân Việt Nam(Quân đội Nhân dân Việt Nam) bao vây Đức Huệ và nỗ lực giải cứu của Quân đoàn 3 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa(qlvnch)[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 27/3/1974, một đaị đội Đặc Công quân đội nhân dân VIệt Nam xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, thì chiếm được một góc căn cứ. Trong khi đó, bên ngoài căn cứ, binh đoàn Chi Lăng(quân đội nhân dân Việt Nam) đã bao vây chặt căn cứ và gọi pháo được bố trí bên kia biên giới pháo kích dữ dội vào Đức Huệ.Đến sáng 28/3/1974, thì đại đội Đặc công bị quân biệt động tiêu diệt hết.Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ.Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 ở Giồng Thổ Địa thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ.Tiểu Đoàn 64 BĐQ và Tiểu Đoàn 36 BĐQ tăng phái cho Đức Huệ cũng bị đập tan buộc phải rút lui.Bộ tư lệnh quân đoàn 3 giao cho sư 25 bộ binh hành quân giải tỏa cũng thất bại.

Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phản công[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những nỗ lực tiếp viện cho căn cứ Đức Huệ đang bị cô lập đều thất bại,ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn 3 gọi cho tướng Trần Quang Khôi đi khảo sát thực địa bằng trực thăng và cho ý kiến. Một ý tưởng táo bạo nảy ra trong đầu viên tướng thiết kỵ và kế hoạch phản công do tướng Khôi tự tay phác họa được trình lên tư lệnh Quân Đoàn 3 để trình lên Tổng thống Thiệu xin ý kiến.Kế hoạch hành quân gồm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch: Từ ngày N-6 đlà làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút đi đến một nơi khác. ến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh).

- Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ

"Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của Khôi, đồng thời ra lệnh cho Không lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh. Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa.Theo nhu cầu hành quân của ông,các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII:

- Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy;

- Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;

- 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy

- Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy;

- Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;

- Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá L?m Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát;

- 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát;

- 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.[2]

Ngày 22-4-1974, quân đội nhân dân Việt Nam bị mắc lừa, đài tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo:" Quân Thiết giáp đã rút đi".Ngày N được chọn là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công Binh qlvnch đã sẵn sàng.Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ. Ngày 29-4-1974, lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên.Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu.Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy dấu hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam nghi ngờ.Đúng 03:30 giờ,tướng Khôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ lệnh.Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. Đến 05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Qlvnch liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Sư đoàn 5 bị đánh bất ngờ tháo chạy,qlvnch truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam bị tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ. Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân lực chiếm đoạt.Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại quân của Sư Đoàn 5 bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tướng Khôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật.Sáng ngày 30-4-74, các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 hoàn toàn bị quét sạch

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

QLVNCH giành chiến thắng. Hàng ngàn binh sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam chết và bị thương, hàng trăm bị bắt sống. QLVNCH thu giữ nhiều khí tài.

Trận Chiến Cuối Cùng của LLXKQÐIII tại Biên Hòa và kế hoạch đem quân về cứu Sài Gòn của Trần Quang Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Chuẩn bị[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình quân sự ngày càng nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong "Mùa Hè Đỏ Lửa" 1972, nhiều chiến xa T-54 xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc, nên tướng Khôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa Quân đội Nhân dân Việt Nam có thể xuất hiện ở Biên Hòa; ông xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch. Chính nhờ nỗ lực này của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh mà sau này trong "Chiến Dịch Hồ Chí Minh" năm 1975, Quân Đoàn 4 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa và Sư Đoàn 341 Quân đội Nhân dân Việt Nam bị quân lực đánh bại ở Biên Hòa trong ngày 30-4-1975. Và để phòng thủ Biên Hòa, ông đã bố trí bố phòng như sau: Chiến Ðoàn 322 phòng thủ ở phía nam Phi Trường Biên Hòa và giữ Mạn Bắc Bộ Tư Lệnh QÐIII. Lữ Ðoàn 468 TQLC giữ Mạn Nam TP Biên Hòa. Lữ Ðoàn 2 Nhẩy Dù giữ Cầu Mới, Cầu Sắt Biên Hòa và các nút chận trên các đường xâm nhập vào Biên Hòa. Chiến Ðoàn 315 án ngữ Ngã Ba Xa Lộ Biên Hòa, giữ Mạn Ðông. Chiến Ðoàn 318 án ngữ từ cổng Phi Trường Biên Hòa đến Cầu Mới, chịu trách nhiệm Mạn Tây.

Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29/4/1975 vào khoảng 18 giờ,địch quân bắt đầu xâm nhập vào vị trí từ Mạn Bắc và Ðông Bắc đụng phải Chiến Ðoàn 322 và 315 và bị đẩy lui. Tình hình sau đó trở nên khá yên tĩnh.Khoảng 23:45 giờ khuya: địch quân lại bắt đầu pháo kích dữ dội vào thành Phố Biên Hòa và đồng thời tập trung một lực lượng gồm bộ binh và chiến xa tấn công vào hướng Bộ Tư Lệnh QÐIII. Chiến Ðoàn 315 xông ra chặn địch và Cộng quân phải rút lui.Lúc 03:00 giờ sáng: địch lại pháo kích dữ dội và chính xác hơn vào TP Biên Hòa. Ðoàn chiến xa của địch vừa xuất hiện đã bị bắn hạ và chúng tháo chạy ngược ra xa lộ Biên Hòa. Kể từ đó, TP Biên Hòa lại trở lại yên tĩnh.

LLXKQD3 về cứu thủ đô[sửa | sửa mã nguồn]

Ðúng 08:00 giờ sáng ngày 30/4/75, không liên lạc được với Bộ Tổng Tham Mưu, và nhận thấy địch đã không còn muốn đánh Biên Hòa mà muốn đánh thẳng vào thủ đô, Tướng Khôi quyết định họp các đơn vị trưởng lại trao đổi tin tức. Tất cả cùng quyết định kéo quân về giải cứu Thủ Ðô. Lữ Ðoàn 2 Nhẩy Dù do Tr.T. Nguyễn Lô chỉ huy tiến theo Ðường Sắt phía phải về Saigòn.

Lữ Ðoàn 468 TQLC của Tr.T. Huỳnh Văn Lượm tiến theo phía trái Ðường Sắt.

Lữ Ðoàn 3 KB và Liên Ðoàn 33 BÐQ tiến theo Xa lộ Biên Hòa về Saigòn.

Chiến Ðoàn 315 của Tr.T. Ðỗ Ðức Thảo tiến về Cầu Bình Triệu.

Chiến Ðoàn 322 của Tr.T. Nguyễn Văn Liên tiến theo sau Chiến Ðoàn 315.

Chiến Ðoàn 318 của Tr.T. Nguyễn Ðức Dương đi đoạn hậu sau các đơn vị yểm trợ của Tr.T. Nguyễn Văn Liên tiến theo sau Chiến Ðoàn 315.[3]

Ðúng 09:00: toàn bộ lực lượng lên đường. Các ổ kháng cự dọc đường của địch đã bị đè bẹp nhanh chóng. Trong giờ phút chót này, Tướng Khôi kể lại, phi công lái trực thăng cho ông là Th.T. Cư (nguyên là phi công của Tướng Toàn) đề nghị đưa Tướng Khôi đi lánh nạn, nhưng Tướng Khôi từ chối. Từ trên trực thăng, Tướng Khôi nhìn đoàn quân xa, chiến xa, xe kéo pháo của địch quân đang bò vào thủ đô theo Xa Lộ Biên Hòa và Quốc Lộ 13.10:25 giờ sáng 30/4/75: Tướng Khôi nghe thấy lệnh buông súng tại chỗ của TT Dương Văn Minh và các cánh quân thiết giáp đã tới gần Nhà Thờ Fatima, Bình Triệu. Tướng Khôi tự chấm dứt quyền chỉ huy và để cho quân sĩ tự động tan hàng.[4]

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

I was most sorry for the outcome of the war, but I had done my best. I let my troops execute the President's final order for themselves: I had nothing more to say. But deep in my heart, I silently thanked all of them for their courage, sacrifice, and dedication until the very last minute of the war. Together, we had fulfilled our obligation and oath of allegiance. I shall never repent having done what I did, nor complain about the consequences of my captivity. If history were to repeat itself, I would choose the same path. By so doing, I know from experience that I would lose everything but HONOR. Trong Vùng 3 chiến thuật, chỗ nào "nặng" nhất thì Lữ đoàn 3 kỵ binh có mặt.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Là một người rất táo bạo và liều lĩnh nhưng thận trọng. Là một trong số rất ít tướng lĩnh không bỏ trốn, dao động khi nguy cơ Sài Gòn thất thủ mặc dù đã được cấp dưới đề nghị sẽ đưa đi trốn nhưng ông từ chối vì danh dự của quân nhân và can trường của một tướng lĩnh, ông vẫn chiến đấu tới giờ phút cuối cùng[5]. Khi kết thúc trận Đức Huệ. Khi tham quan Đức Huệ trên chiếc trực thăng chỉ huy của ông.Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với ông:

- Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh.

- Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Ông đáp lại.

Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, ông nói đùa một câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux. (Sự may mắn luôn luôn "cười" với những kẻ liều lĩnh).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hồi kí của các tướng lãnh Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hoàng Cầm) về đại thắng mùa xuân.

Thể loại:Tướng lĩnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa