Trần Quang Khôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Quang Khôi, nguyên là một tướng lãnh trong binh chủng Kỵ binh Thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, mang quân hàm Chuẩn tướng. Xuất thân từ trường Võ bị Liên quân. Trong suốt 24 năm tại ngũ (cũng là thời gian thâm niên quân vụ), ông đã dành trọn để phục vụ chuyên ngành của mình.

Tiểu sử & Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24-1-1930 tại làng Đa Phước Hội, Quận Mỏ Cày, Tỉnh Bến Tre, miền Tây Nam bộ VN. Ông là người con thứ 5 trong một gia đình gồm có 12 anh chị em.

  • Song thân: Cụ Trần Quang Chiêu (Nq: Kiên Giang) & Cụ Lê Thị Hoà (Nq: Bến Tre).
  • Nhạc phụ & Nhạc mẫu: Cụ Lâm Đức Hương(Nq: Cần Thơ) & Cụ Trương Thị Sâm (Nq: Trà Vinh).
  • Phu nhân: Bà Lâm Tú Anh. Ông bà có 4 người con: 2 trai, 2 gái.

Học vấn & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

-Đã theo học các Trường:

  • Trung học Tabert, Sài Gòn (1943-1945).
  • Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ (1946-1949).
  • Trung học Le Myre de Vilers, Mỹ Tho (1949-1951)). Tốt nghiệp Tú tài toàn phần.

-Bằng cấp về sau:

  • Cử nhân văn chương Pháp.
  • Tiến sĩ Đệ Tam cấp Văn học Pháp (Master of Arts Degree in French) ngày 10-6-1998 tại Đại học George Mason, University, Virginia, Hoa Kỳ.

Năm 1951: Nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/119.246. Theo học khoá 6 Đinh Bộ Lĩnh, Trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt (khai giảng: 1-12-1951, mãn khoá: 1-10-1952). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý.

Năm 1952: Tháng 10, theo học khoá căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn đông của Pháp ở Vũng Tàu, mãn khoá ngày 1-4-1953.

Năm 1953: Tháng 4, Trung đội trưởng Trung đội 4 Thám thính đồn trú tại Thái Bình Bắc Việt và Đại đội phó Đại đội 5 Thám thính do Trung uý Trần Văn Ái (giải ngũ ở cấp Trung tá) làm Đại đội trưởng.

Năm 1954: Tháng 6, Trung đội trưởng Chiến xa Obusier 75 ly kiêm Đại đội phó Đại đội 3 Thám thính tại Nam Định do Đại uý Nguyễn Duy Hinh làm Đại đội trưởng. Sau Hiệp định Genève, di chuyển vào Nam đồn trú tại Đà Nẵng. Ngày 1-10, thăng Trung uý. Tháng 11, du học khoá cao cấp Thiết giáp Kỵ binh Saumur, Pháp. Tốt nghiệp tháng 8-1955.

Quân đội VNCH

Năm 1955: Tháng 8, thăng Đại uý, Chi đoàn trưởng chi đoàn Thuỷ xa Cua, thuộc Liên đoàn 5 Thuỷ xa tại Nhà Bè, Gia Định. Năm 1956: Tháng 9, Trưởng ban 3 Trung đoàn 2 Thiết giáp tại Mỹ Tho. Năm 1957: Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Thiết giáp tại Huế. Năm 1958: Du học khoá Cao cấp Thiết giáp tại Trường Thiết giáp Lục quân Fort Knox, Kentucky, Hoa Kỳ. Năm 1959: Tháng 6, Chỉ huy phó Trường Thiết giáp kiêm Giám đốc Huấn luyện tại Thủ Đức do Thiếu tá Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc làm Chỉ huy trưởng. Theo học khoá 2 trường Chiến tranh Chính trị tại Sài Gòn.

Nam 1960: Tháng 6, thăng Thiếu tá làm Trung đoàn phó Trung đoàn 6 Thiết giáp tại Quảng Trị. Tháng 12, Trung đoàn phó Trung đoàn 3 Thiết giáp tại Pleiku.

Năm 1964: Quyền Trung đoàn trưởng Trung đoàn 41, Sư đoàn 22 Bộ binh tại Kontum. Tháng 7, Trưởng Phòng 3 Bộ Tư lệnh Quân đoàn II tại Pleiku. Tháng 12, Chiến đoàn phó Chiến đoàn 5 Chiến xa tại Gò Vấp.

Năm 1965: Tháng 8, thăng Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Thiết giáp tại Xuân Lộc, Long Khánh. Năm 1967: Bàn giao chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Thiết giáp lại cho Thiếu tá Phạm Đăng Chương (sau là Trung tá). Tháng 7, Tham vụ báo chí Toà Đại sứ VNCH tại Seoul, Nam Hàn do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Đại sứ. Năm 1968: Về nước, tháng 8 làm Chánh Văn phòng Tư lệnh Quân đoàn III do Trung tướng Đỗ Cao Trí làm Tư lệnh.

Năm 1969: Tháng 6, Thăng cấp Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn 18 Bộ binh tại Xuân Lộc, Long Khánh. Năm 1970: Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hoà. Năm 1972: Tháng 6, du học khoá Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Tháng 6-1973: mãn khoá về nước. Tháng 7, Huấn luyện viên Chiến thuật tại Trường Chỉ huy & Tham mưu QLVNCH tại Long Bình. Ngày 7-11, tái nhiệm chức Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh tại Biên Hoà.

Năm 1974: Vinh thăng Chuẩn tướng nhiệm chức.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày cuối tháng 4, ông chỉ huy đơn vị trực thuộc bảo vệ Biên Hòa, nơi đặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn III & Quân khu 3 do Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh. Cùng phối hợp với Sư đoàn 18 Bộ binh do Thiếu tướng Lê Minh Đảo Tư lệnh, phòng thủ phòng tuyến Xuân Lộc, bảo vệ cửa ngõ phía đông bắc của Thủ Đô Sài Gòn.

Sau ngày 30-4, ông bị quân giải phóng bắt ở tư gia của song thân tại Rạch Giá ngày 9-5-1975 và bị giam tại nhà lao Rạch Giá. Sau đó, chuyển về Cần Thơ, Hóc Môn và chuyển ra miền Bắc giam giữ ở Yên Bái (1976), Hà Tây (1978) và Nam Hà (1983). Năm 1988, chuyển vào Nam giam tại trại Z30D Hàm Tân ở Rừng Lá, Bình Tuy (Thuận Hải). Năm 1992: Ngày 31-5, ông được trả tự do sau 17 năm 1 tháng bị giam cầm.

Năm 1993: Ngày 11-4, được đi định cư (theo diện H.O) tại TP Chantilly, Virginia, Hoa Kỳ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân (2011).