USS Albany (CA-123)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Albany-iv-1.jpg
Tàu tuần dương USS Albany (CA-123) trong chuyến viếng thăm Copenhagen, Đan Mạch, tháng 6 năm 1951
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Albany
Đặt tên theo: Albany, New York
Hãng đóng tàu: Bethlehem Steel Company, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 6 tháng 3 năm 1944
Hạ thủy: 30 tháng 6 năm 1945
Đỡ đầu bởi: Elizabeth F. Pinckney
Nhập biên chế: 15 tháng 6 năm 1946
Xuất biên chế: 29 tháng 8 năm 1980
Xếp lớp lại: 1 tháng 11 năm 1958 (CG-10)
Số phận: Bị tháo dỡ năm 1990
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Oregon City
Trọng tải choán nước: 13.700 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 673 ft 5 in (205,26 m)
Sườn ngang: 70 ft 10 in (21,59 m)
Mớn nước: 26 ft 4 in (8,03 m)
Động cơ đẩy: turbine hơi nước hộp số General Electric
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 32,4 kn (60,0 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.969
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
sau cải biến:
radar dò không trung AN/SPS-48 3D
radar dò mặt đất AN/SPS-43, AN/SPS-30, AN/SPS-10
radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-49 dành cho Talos
radar kiểm soát hỏa lực AN/SPG-51 dành cho Tartar
sonar AN/SQS-23 trước mũi
Vũ trang:
ban đầu:
9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3);
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber (6×2);
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm;
20 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
sau cải biến:
2 × bệ phóng tên lửa Mk 12 nòng đôi dành cho tên lửa đất-đối-không RIM-8 Talos (104 quả)
2 × bệ phóng tên lửa Mk 11 nòng đôi dành cho tên lửa đất-đối-không RIM-24 Tartar (84 quả)
1 × bệ phóng tên lửa Mk 112 ASROC tám nòng
2 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng
2 × ống phóng ngư lôi Mk 32 ba nòng
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ trinh sát

USS Albany (CA-123) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Oregon City được đưa ra hoạt động sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó được cải biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển vào cuối những năm 1950 với ký hiệu CG-10, trở thành chiếc dẫn đầu của lớp Albany, và đã tiếp tục phục vụ cho đến khi ngừng hoạt động vào năm 1980 và bị tháo dỡ vào năm 1990.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ được đặt tên theo thủ phủ của tiểu bang New York, Albany được đặt lườn vào ngày 6 tháng 3 năm 1944 tại Quincy, Massachusetts bởi hãng Bethlehem Steel Company. Nó được hạ thủy vào ngày 30 tháng 6 năm 1945, được đỡ đầu bởi Bà Elizabeth F. Pinckney, và được đưa ra hoạt động vào ngày 15 tháng 6 năm 1946 tại Xưởng hải quân Boston dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng Đại tá Hải quân Harold A. Carlisle.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

CA-123[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được trang bị và một chuyến đi thử máy tại khu vực lân cận vịnh Casco, Maine, Albany bắt đầu hoạt động dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ xen kẻ với những chuyến đi đến Tây Ấn. Trong những tháng tiếp theo, chiếc tàu tuần dương mới thực hiện một số chuyến đi nhằm mục đích huấn luyện quân nhân hải quân dự bị cũng như học viên sĩ quan mới. Đến ngày 11 tháng 9 năm 1948, Albany khởi hành từ vịnh Chesapeake cho lượt bố trí đầu tiên cùng với lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Địa Trung Hải, không lâu trước đó đã được xác lập thường trực thành Đệ Lục hạm đội. Chiếc tàu tuần dương luân phiên năm lượt bố trí cùng Đệ Lục hạm đội cùng các hoạt động dọc theo bờ Đông của Hoa Kỳ và tại vùng biển Đông Ấn, và đã thực hiện ba chuyến đi đến các cảng Nam Mỹ. Trong một chuyến đi như vậy, Albany đã đưa những đại biểu chính thức của Hoa Kỳ tham dự lễ nhậm chức của Tổng thống Brasil vào tháng 1 năm 1951.

CG-10[sửa | sửa mã nguồn]

USS Albany (CG-10) trong cảng Boston, ngày 26 tháng 11 năm 1968, với kiểu dáng khác biệt sau khi cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển

Vào ngày 30 tháng 6 năm 1958, Albany được cho ngừng hoạt động tại Xưởng hải quân Boston để bắt đầu cải biến thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1958, nó được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới CG-10. Chiếc tàu chiến trải qua bốn năm tiếp theo tại Boston cho công việc tái cấu trúc rộng rãi như một phần của việc cải biến. Nó hoạt động trở lại tại Boston vào ngày 3 tháng 11 năm 1962 dưới quyền chỉ huy của Đại tá Ben B. Pickett. Trong gần năm năm, nó lại luân phiên những lượt bố trí đến các vùng biển Châu Âu, cả Địa Trung Hải lẫn Bắc Đại Tây Dương, với những hoạt động dọc theo bờ Đông và tại khu vực Tây Ấn. Trong thời gian này, chiếc tàu tuần dương đã viếng thăm nhiều cảng nước ngoài và tham gia một số cuộc tập trận cùng với những đơn vị của hải quân các nước thân hữu.

Vào ngày 1 tháng 3 năm 1967, một lần nữa Albany được cho ngừng hoạt động tại Xưởng hải quân Boston để cải biến rộng rãi. Sau khoảng 20 tháng, chiếc tàu tuần dương hoạt động trở lại tại Boston vào ngày 9 tháng 11 năm 1968 dưới quyền chỉ huy của Đại tá Robert C. Peniston. Vào năm 1973 con tàu được đại tu tại Xưởng hải quân Philadelphia, nó lại hoạt động vào tháng 5 năm 1974, đặt cảng nhà tại Norfolk, Virginia dưới quyền chỉ huy của Đại tá John J. Ekelund. Không lâu sau đó, nó trở thành soái hạm của Đệ Nhị hạm đội, và từ năm 1976 đến năm 1980, Albany là soái hạm của Đệ Lục hạm đội, đặt cảng nhà tại Gaeta, Italy. Nó được cho ngừng hoạt động vào ngày 29 tháng 8 năm 1980 và bị tháo dỡ vào năm 1990. Một phần mũi tàu của nó hiện đang đặt tại Albany County Fairgrounds ở Altamont, New York.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]