Vulpix

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vulpix
Vulpix.png
National Pokédex
Clefable - Vulpix (#037) - Ninetales
Loạt trò chơi Pokémon
Trò chơi đầu tiên Pokémon Red and Blue
Thiết kế bởi Ken Sugimori
Lồng tiếng (tiếng Anh) Annie Pondel (tập 28)
Rachael Lillis
Tara Jayne
Lồng tiếng (tiếng Nhật) Rikako Aikawa

Vulpix Rokon (Nhật: ロコン?) là một loài Pokémon trong các sản phẩm về Pokémon của NintendoGame Freak. Vulpix tiến hóa thành Ninetales khi tiếp xúc với một viên đá lửa. Được tạo ra bởi Ken Sugimori, chúng xuất hiện lần đầu tiên trong Pokémon Red and Blue và những phần tiếp theo, cũng như nhiều sản phẩm khác.

Ý tưởng và đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nintendo quyết định đặt tên tiếng Anh cho các loài Pokémon một cách "thông minh và giàu tính mô tả" bằng sự liên hệ với ngoại hình và đặc điểm của chúng.[1] Vulpix ban đầu có tên là Foxfire trong các phiên bản tiếng Anh cho đến khi Nintendo chọn cái tên Vulpix, dựa trên từ tiếng Latin "vulpus" nghĩa là cáo.[2]

Vulpix là Pokémon có hình dạng giống một con cáo với sáu chiếc đuôi cuộn lại, dựa trên hình tượng hồ ly tinh kitsune của Nhật Bản. Khi vừa được sinh ra, Vulpix chỉ có một chiếc đuôi màu trắng; nó dần tách ra và chuyển sang màu đỏ.[3][4] Vulpix nổi tiếng với bộ lông và những chiếc đuôi của mình.[5] Trong cơ thể Vulpix có một ngọn lửa, khi nhiệt độ môi trường tăng lên, nó sẽ nhà ngọn lửa này ra để tránh nhiệt độ cơ thể trở nên quá cao.[6] Vulpix có thể điều khiển ngọn lửa này và khiến nó bay lượn như ma trơi.[7] Vulpix thường giả vờ bị thương để trốn thoát kẻ săn mồi.[8]

Sự xuất hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Vulpix xuất hiện lần đầu tiên trong Pokémon Red and Blue. Từ đó nó đã xuất hiện trong tất cả các tựa game Pokémon được phát hành, bao gồm cả Pokémon YellowPokémon FireRed and LeafGreen. Vulpix cũng xuất hiện trong Pokémon Pinball, Pokémon Trozei!, Pokémon Mystery Dungeon, Pokémon Ranger, Pokémon Rumble, PokéPark Wii: Pikachu's Adventure, Pokémon SnapPokémon Channel. Nó là một Pokémon khởi đầu trong Pokémon Mystery Dungeon: Explorers of Sky.

Trong anime[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa đầu tiên của anime Pokémon, Vulpix là một trong những Pokémon của Brock. Nó được một cô gái tên là Suzy trao cho Brock bởi cô nghĩ cậu sẽ chăm sóc nó tốt hơn. Sau đó Brock gặp lại Suzy ở Johto và trả nó lại cho cô.

Trong manga[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Magical Pokémon Journey, Kiaraway, một huấn luyện viên Pokémon hệ lửa, có một con Vulpix. Nó là một trong những Pokémon được cậu sử dụng nhiều nhất, xuất hiện lần đầu tiên cùng với Cyndaquil. Trong Pokémon Adventures, Flannery có một con Vulpix mà cô dùng để chiến đấu với Ludicolo của Shelly. Nhiều năm trước, trong chương Yellow, Bill cũng có một con Vulpix. Trong Pokémon Battle Frontier, nhân vật chính Enta có một con Vulpix mạnh mẽ và trung thành.

Sự đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

IGN miêu tả Vulpix rằng nó là "một trong những thứ dễ thương nhất bạn từng thấy", hơn cả Pikachu, biểu tượng của Pokémon,[9] nhưng sẽ trở nên mạnh mẽ sau khi tiến hóa. Tuy nhiên nó lại không thật sự giá trị ở những cấp độ thấp.[2] Brett Elston của GamesRadar cho rằng Vulpix "dễ thương một cách không thể chối cãi", nhưng lại kém hơn Growlithe về mặt chiến đấu bằng những đòn hệ lửa. Tuy nhiên anh cũng chỉ ra rằng các đòn thế của Vulpix đa dạng hơn.[10] Tracey West và Katherine Noll xếp Vulpix ở vị trí thứ năm trong số các Pokémon hệ lửa.[11] Maria S. Barbo cho rằng Vulpix có một "vẻ ngoài dễ thương" "ẩn dấu sức mạnh bên trong."[12]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chua-Euan, Howard (22 tháng 11 năm 1999). “PokéMania”. TIME. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008. 
  2. ^ a ă Pokemon Strategy Guide - IGNguides
  3. ^ Game Freak. Pokémon Red and Blue. (Nintendo). Game Boy. (30 tháng 9 năm 1998) "At the time of birth, it has just one tail. The tail splits from its tip as it grows older."
  4. ^ Game Freak. Pokémon Gold. (Nintendo). Game Boy Color. (15 tháng 10 năm 2000) "As it develops, its single white tail gains color and splits into six. It is quite warm and cuddly."
  5. ^ Game Freak. Pokémon Yellow. (Nintendo). Game Boy. (19 tháng 10 năm 1999) "Both its fur and its tails are beautiful. As it grows, the tails split and form more tails."
  6. ^ Game Freak. Pokémon Sapphire. (Nintendo). Game Boy Advance. (17 tháng 3 năm 2003) "Inside Vulpix's body burns a flame that never goes out. During the daytime, when the temperatures rise, this Pokémon releases flames from its mouth to prevent its body from growing too hot."
  7. ^ Game Freak. Pokémon Emerald. (Nintendo). Game Boy Advance. (1 tháng 5 năm 2005) "It can freely control fire, making fiery orbs fly like will-o'-the-wisps. Just before evolution, its six tails grow hot as if on fire."
  8. ^ Game Freak. Pokémon Silver. (Nintendo). Game Boy Color. (15 tháng 10 năm 2000) "If it is attacked by an enemy that is stronger than itself, it feigns injury to fool the enemy and escapes."
  9. ^ Staff (1 tháng 11 năm 1999). “Pokémon of the Day: Vulpix”. IGN. IGN Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009. 
  10. ^ The complete Pokemon RBY pokedex, part 4 | GamesRadar
  11. ^ Pokémon top 10 handbook: our top picks! - Tracey West, Katherine Noll - Google Boeken
  12. ^ http://books.google.com/books?id=08IRMQAACAAJ

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]