Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung Hoa đại đế quốc
中華大帝國

1915–1916
Đại đế quốc kỳ Thập nhị chương quốc huy
Quốc ca
Zhōngguó xióng lì yǔzhòujiān
《中國雄立宇宙間》
"Trung Quốc hùng lập vũ trụ gian"
Thủ đô Bắc Kinh
39°54′B 116°23′Đ / 39,9°B 116,383°Đ / 39.900; 116.383
Ngôn ngữ Tiếng Hoa
Chính quyền Quân chủ chuyên chế
Hoàng đế
 •  1915–1916 Hồng Hiến Hoàng đế
Thủ tướng
 •  1915–1916 Lục Trưng Tường
Giai đoạn lịch sử Thế chiến I
 •  Thành lập 12 tháng 12 1915
 •  Chiến tranh hộ quốc 25 tháng 12 năm 1915
 •  Bãi bỏ 22 tháng 3 1916
Tiền tệ Nguyên
Hiện nay là một phần của  Trung Quốc
 Mông Cổ
 Nga
 Đài Loan
 Tajikistan
 Myanmar
 Afghanistan
 Ấn Độ
 Pakistan
 Bhutan
 VIE

Trung Hoa đại đế quốc (tiếng Trung: 中華大帝國 / Zhōnghuá dàdìguó) hoặc Hồng Hiến đế chế (洪憲帝制 / Hóngxiàn dìzhì) là một triều đại ngắn trong lịch sử Trung Quốc khi chính khách kiêm tướng quân nhiều quyền lực thời Dân Quốc Viên Thế Khải thành lập với mong muốn phục hồi chế độ quân chủ ở Trung Quốc từ cuối năm 1915 đến đầu năm 1916. Với nỗ lực bất thành của họ Viên đã làm cho tiến trình xoay chuyển Trung Quốc sang nền cộng hòa bị lùi lại và đẩy cả đất nước rơi vào tình trạng nội chiến âm ỉ giữa các phe cánh quân phiệt, lãnh chúa địa phương trong nhiều năm sau đó.

Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Viên Thế Khải lên nắm quyền với cương vị là Quyền Đại Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, ông ta bắt đầu thực hiện một loạt bước đi trong kế hoạch của mình để loại các đối thủ chính trị và củng cố quyền lực của mình. Để đảm bảo hơn, Viên đã liên kết với các thế lực phương Tây và Nhật Bản. Vào tháng 8 năm 1915, Viên chỉ đạo Dương Độ (楊度) đi vận động tìm kiếm sự ủng hộ cho kế hoạch phục hồi chế độ quân chủ. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1915, quốc hội đã đồng ý thông qua việc lên ngôi của Viên. Viên giả vờ từ chối để rồi sau đó lên tiếng đồng ý khi quốc hội kiến nghị lần thứ hai cùng ngày.[1] Vào ngày 12 tháng 12, con của Viên là Viên Khắc Định lên tiếng ủng hộ cha mình lên ngôi và ban bố thành lập Đế quốc Trung Hoa, Viên tự phong mình là Đại Hoàng đế Trung Hoa (中華帝國大皇帝, Hán-Việt: Trung Hoa Đế quốc Đại Hoàng đế), lấy niên hiệu là "Hồng Hiến" (洪憲). Ngay sau đó, Viên bắt đầu ban chức tước cho gia khuyến, họ hàng thân thuộc, bạn bè và cả những người mà Viên nghĩ rằng có thể mua chuộc họ bằng chức phẩm.

Riêng đối với hoàng tộc "Ái Tân Giác La" của Mãn Thanh vẫn được ở lại Tử Cấm Thành với tư cách là đại diện hoàng tộc nước ngoài chứ không phải Trung Quốc. Thuận theo thánh chỉ của Viên, Phổ Nghi sẽ lấy con gái của ông để kết mối thông gia giữa hai bên.

Phản ứng trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1916 được xem như là năm "Hồng Hiến thứ 1" (洪憲元年) hơn là năm "Dân Quốc thứ 5" (民國五年),[1] nhưng Viên vấp phải sự chỉ trích và phản đối kịch liệt từ những người cách mạng và cả các lãnh đạo quân sự cấp dưới của Viên. Họ cho rằng Viên muốn lên làm hoàng đế vốn để cai trị Trung Quốc một cách danh chính ngôn thuận và giảm bớt quyền lực của các thể lực quân sự.

Từng tỉnh một đứng dậy chống lại Viên sau khi ông tuyên bố làm hoàng đế, đầu tiên là Vân Nam do Tổng đốc Thái Ngạc (hay Sái Ngạc) và Đường Kế Nghiêu, rồi đến Tổng đốc Giang Tây Lý Liệt Quân (李烈鈞). Các thế lực nổi dậy thành lập Hộ Quốc Quân (護國軍) và phát động "Hộ Quốc Tranh". Các tướng lĩnh thuộc Quân Bắc Dương vốn chưa nhận được bất kỳ một khoản tiền nào từ tân chính phủ đã không có nhiệt huyết trong việc chống lại Hộ Quốc Quân. Do đó, dù được huấn luyện và trang bị tốt hơn rất nhiều nhưng Bắc Dương quân vẫn liên tục đại bại.

Khi thấy quyền lực của Viên suy yếu đi, các thế lực ngoại bang đồng loạt hủy bỏ hỗ trợ cho Viên. Đế quốc Nhật Bản đã đe dọa sẽ tiến hành xâm lược Trung Quốc, nhưng rồi sau đó cam kết là sẽ lật đổ Viên, công nhận tất cả các bên tham gia và ban bố tình trạng nội chiến tại Trung Quốc để cho phép công dân Nhật hỗ trợ những người theo phe Cộng hòa.[1] Mặc dù bị phản đối rộng rãi, nhưng Viên liên tục trì hoãn việc thoái vị. Cho đến khi ngân quỹ bị cắt vào ngày 1 tháng 3, Viên cùng bàn bạc với Lương Sĩ Di (梁士詒) để chấm dứt chế độ và ông chính thức giải thể vương triều của mình vào ngày 22 tháng 3, năm "Hồng Hiến" bị xóa bỏ vào ngày 23 tháng 3 và nền Cộng hòa được phục hồi. Viên tại vị được tổng cộng 83 ngày.[1]

Sau cái chết của Viên vào ngày 5 tháng 6, Phó Tổng thống Lê Nguyên Hồng chính thức đảm nhiệm chức vụ Tổng thống, chỉ định Đoàn Kỳ Thụy vào chức vụ Thủ tướng và phục hồi Quốc hội cũng như ban bố Hiến pháp tạm thời. Tuy nhiên, chính phủ trung ương ở Bắc Kinh cực kì suy yếu và không đủ sức để tiếp quản một Trung Hoa đầy rối loạn và phân chia từ vương triều của Viên dẫn đến tình trạng quân phiệt cát cứ ở khắp nơi.

Quốc kỳ - Quốc ca[sửa | sửa mã nguồn]

Lệnh kỳ của Đại hoàng đế Trung Hoa[2]

Mặc dù tên nước được đổi sang là "Đế quốc Trung Hoa" nhưng Viên vẫn sử dụng tên "Trung Hoa Dân Quốc" khi dịch sang tiếng Anh.[1]

Viên thành lập Phòng Khánh Tiết (禮制館) để phát hành bản quốc ca mới với tên gọi "Trung Hoa hùng lập vũ trụ gian" (中華雄立宇宙間) vào tháng 6 năm 1915 do Âm Xương (廕昌) biên soạn và Vương Lộ (王露) thảo nhạc. Bản quốc ca này được sử dụng trong suốt thời gian vương triều của Viên trị vì.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Kuo T'ing-i et al. Historical Annals of the ROC (1911–1949). Vol 1. pp 207–41.
  2. ^ 中國的旗幟 (Flags of China) (tiếng Trung)