Ớt chuông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Ớt chuông với ba màu: xanh, đỏ, vàng. Ở một số nước, chúng được bán theo gói gồm ba màu và được gọi là "traffic light pepper"

Ớt chuông, hay còn gọi là ớt ngọt (gọi là pepperVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Ireland hay capsicum[1]Ấn Độ, Bangladesh, Úc, SingaporeNew Zealand), là quả của một nhóm cây trồng, loài Capsicum annuum.[2] Cây trồng của loài này cho ra trái với màu sắc khác nhau, bao gồm màu đỏ, vàng, cam, xanh lục, sô-cô-la / nâu, vanilla / trắng, và màu tím. Ớt chuông đôi khi được xếp vào nhóm ớt ít cay mà cùng loại với ớt ngọt. Ớt chuông có nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, và phía Bắc Nam Mỹ. Phần khung và hạt bên trong ớt chuông có thể ăn được, nhưng một số người sẽ cảm nhận được vị đắng.[3] Hạt ớt chuông được mang đến Tây Ban Nha vào năm 1493 và từ đó lan rộng khắp các nước Châu Âu, Châu Phi, và Châu Á. Ngày nay, Trung Quốc là nước xuất khẩu ớt chuông lớn nhất thế giới, theo sau là MexicoIndonesia.

Điều kiện trồng ớt chuông lý tưởng bao gồm đất ấm, khoảng từ 21 đến 29 độ C (70 đến 84 độ F), và luôn giữ ẩm nhưng không để úng nước.[4] Ớt chuông rất nhạy cảm với độ ẩm và nhiệt độ cao vượt mức.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi “ớt” là một sự nhầm lẫn của Christopher Columbus khi ông mang loài cây này trở về Châu Âu. Vào lúc đó thì “hồ tiêu”, quả của một loài cây không liên quan gì đến ớt chuông có xuất xứ từ Ấn Độ, Piper nigrum, là một loại gia vị đắt giá; tên gọi “ớt” vào lúc đó được sử dụng tại châu Âu cho bất gì loại gia vị nào mà nóng và hăng, và cũng tự nhiên được đặt cho chi thực vật vừa mới được phát hiện là Capsicum. Tên thay thế thông thường nhất của họ cây này, “chile”(ớt), có nguồn gốc từ tiếng Mexico, từ ngôn ngữ Nahuatl là chilli hay xilli. Ớt chuông về mặt thực vật học là trái cây, nhưng lại thường được xem là rau quả trong lĩnh vực nấu nướng.

Trong khi ớt chuông là một thành viên của chi ớt, nó là quả duy nhất mà không tạo ra capsaicin[5], một hợp chất ưa chất béo có thể gây ra cảm giác cay nóng mạnh khi tiếp xúc với các màng nhầy. (Một ngoại lệ của trường hợp này là ớt lai Mexibelle, loài có chứa một lượng capsaicin trung bình, và do đó cũng hơi cay). Việc thiếu chất capsaicin trong ớt chuông là do tính lặn của một gen mà qua đó làm mất đi capsaicin. Kết quả là vị “cay” chỉ đi cùng với các loài còn lại của chi ớt.[6]

Từ “bell pepper”, “pepper” hay ở Ấn Độ, ÚcNew Zealand là “capsicum”, thường được sử dụng cho bất kỳ quả nào có hình chiếc chuông, không kể màu sắc. Trong tiếng Anh hay tiếng Anh Canada, quả chỉ đơn giản là nói đến “pepper”, hay kèm theo màu sắc (như trong từ “green pepper”), trong khi ở Hoa KỳMalaysia, người ta thường nói đến “bell pepper”. Trong tiếng Anh Canada thì sử dụng cả hai chữ “bell pepper” và “pepper” thay thế cho nhau.

Màu sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Ớt chuông với năm màu sắc khác nhau

Hầu hết ớt chuông có màu xanh, vàng, cam, và đỏ. Hiếm hơn thì có thể là màu nâu, trắng, cầu vồng, Oải hương (màu), và tím sẫm, tùy thuộc vào giống ớt chuông. Thường nhất là, các quả chưa chín thì có màu xanh lục, hay ít gặp hơn là vàng xám hay màu tím. Ớt chuông đỏ chỉ đơn giản là ớt chuông xanh đã chín,[7] dù rằng giống Permagreen vẫn duy trì màu xanh lục ngay cả khi đã chín hoàn toàn. Ớt chuông xanh thì ít ngọt và hơi đắng hơn so với ớt chuông vàng và cam, và ớt chuông đỏ có vị ngọt nhất. Vị của ớt chuông chín cũng có thể rất đa dạng tùy theo điều kiện trồng và điều kiện bảo quản sau khi thu hoạch. Quả ngọt nhất được để chín hẳn trêncây ngoài nắng, còn quả thu hoạch khi còn xanh hay để tự chín khi bảo quản thì ít ngọt hơn.

Giá trị dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Peppers, sweet, green, raw
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 84 kJ (20 kcal)
4.64 g
Đường 2.4 g
Chất xơ thực phẩm 1.8 g
0.17 g
0.86 g
Vitamin
Vitamin A equiv.
(2%)
18 μg
(2%)
208 μg
341 μg
Thiamine (B1)
(5%)
0.057 mg
Riboflavin (B2)
(2%)
0.028 mg
Niacin (B3)
(3%)
0.48 mg
Pantothenic acid (B5)
(2%)
0.099 mg
Vitamin B6
(17%)
0.224 mg
Folate (B9)
(3%)
10 μg
Vitamin C
(97%)
80.4 mg
Vitamin E
(2%)
0.37 mg
Vitamin K
(7%)
7.4 μg
Chất khoáng
Canxi
(1%)
10 mg
Sắt
(3%)
0.34 mg
Magiê
(3%)
10 mg
Mangan
(6%)
0.122 mg
Phốt pho
(3%)
20 mg
Kali
(4%)
175 mg
Natri
(0%)
3 mg
Kẽm
(1%)
0.13 mg
Thành phần khác
Fluoride 2 µg

Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (Khuyến cáo của Hoa Kỳ) cho người trưởng thành.
Nguồn: CSDL Dinh dưỡng của USDA

Ớt chuông rất giàu các chất chống oxi hóa và vitamin C. So với ớt chuông xanh, ớt chuông đỏ có nhiều vitamin và dưỡng chất hơn.[2] Lượng carotene, giống như lycopene, trong ớt chuông đỏ là cao gấp 9 lần. Ớt chuông đỏ còn chứa gấp đôi lượng vitamin C so với ớt chuông xanh.[2]

Cả ớt chuông đỏ và xanh đều có chứa nhiều axit para coumaric

Đặc tính thơm của ớt chuông xanh là do hợp chất 3-iso Butyl-2-methoxypyrazine (IBMP). Ngưỡng phát hiện trong nước của nó là khoảng 2 ng/L.[8]

Sản lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Sản lượng ớt chuông và ớt trên thế giới (Tấns)[9]
Country 2004 2005 2006 2007
 People's Republic of China 12,031,031 12,530,180 13,031,000 14,033,000
 Mexico 1,431,258 1,617,264 1,681,277 1,690,000
 Indonesia 1,100,514 1,058,023 1,100,000 1,100,000
 Turkey 1,700,000 1,829,000 1,842,175 1,090,921
 Tây Ban Nha 1,077,025 1,063,501 1,074,100 1,065,000
 Hoa Kỳ 978,890 959,070 998,210 855,870
 Nigeria 720,000 721,000 721,500 723,000
 Egypt 467,433 460,000 470,000 475,000
 Korea, South 410,281 395,293 352,966 345,000
 Netherlands 318,000 345,000 318,000 340,000
 Romania 237,240 203,751 279,126 280,000
 Ghana 270,000 270,000 277,000 279,000
 Italy 362,430 362,994 345,152 252,194
 Tunisia 255,000 256,000 256,000 250,000
 Algeria 265,307 248,614 275,888 233,000
 Hungary 126,133 113,371 206,419 207,000
 Morocco 182,340 190,480 235,570 192,000
 Serbia* 159,741 167,477 177,255 150,257
 Japan 153,400 154,000 146,900 150,000
 Israel 129,100 134,700 150,677 136,000
 World 24,587,124 25,261,259 26,252,907 26,056,900
  • Note: Serbia trước 2006 bao gồm cả Montenegro

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wells, John C. (2008), Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản 3), Longman, tr. 123, ISBN 9781405881180 
  2. ^ a ă â Pharmacognosy and Health Benefits of Capsicum Peppers (Bell Peppers) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “mehta” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ “Should I Eat a Raw Bell Pepper? LIVESTRONG.COM”. LIVESTRONG.COM. Truy cập 2 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ “Growing Peppers: The Important Facts”. GardenersGardening.com. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013. 
  5. ^ “Chiliwonders.com”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2018. 
  6. ^ “The World's Healthiest Foods”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010. 
  7. ^ “Vegetable of the Month: Bell Pepper”. CDC Fruit & Vegetable of the Month. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ Dominique Roujou de Boubee, School of Oenology, University of Bordeaux II. “Research on 2-methoxy-3-isoButylpyrazine in Grapes and Wine” (PDF). Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ “Table 64—World bell and chile peppers: Production 1990–2007”. United States Department of Agriculture. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011.