142 Polana

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
142 Polana
Polana-Mars2013.gif
Khám phá[1] và chỉ định
Khám phá bởi Johann Palisa
Ngày khám phá 28 tháng 1, 1875
Tên chỉ định
Đặt tên theo Pula
Danh mục tiểu hành tinh Vành đai tiểu hành tinh
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên 31 tháng 7 năm 2016 (JD 2457600.5)
Viễn điểm quỹ đạo 2,7444 AU (410,56 Gm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Cận điểm quỹ đạo 2,0934 AU (313,17 Gm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Bán trục lớn 2,4189 AU (361,86 Gm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Độ lệch tâm 0.13457
Chu kỳ quỹ đạo 3.76 yr (1374.1 d)
Tốc độ vũ trụ cấp 1 19.07 km/s
Độ bất thường trung bình 140.92°
Độ nghiêng quỹ đạo 2.2379°
Kinh độ của điểm nút lên 291.27°
Acgumen của cận điểm 292.00°
Đặc trưng vật lý chuẩn của tiểu hành tinh
Kích thước &0000000000055290.00000055.29+1.6 km[1]
55.3 ± 1.6[2]
Chu kỳ tự quay 9.764 h (406,8 d)
Chu kỳ tự quay 9.764 hr[1]
Suất phản chiếu hình học &-1000000000000000.0451000.0451+0.003[1]
0.045 ± 0.003[2]
Nhiệt độ ~179 K
Kiểu phổ F/B[1]
B−V=0.621±0.022[1]
U−B=0.236±0.035[1]
Cấp sao tuyệt đối (H) 10.27[1]

142 Polana là một tiểu hành tinh rất tối nằm trong vành đai tiểu hành tinh. Nó được Johann Palisa phát hiện ngày 28 tháng 1 năm 1875, và đặt theo tên thành phố Pola (Pula, Croatia), nơi đặt Đài thiên văn Hải quân Áo, địa điểm mà Johann Palisa tìm ra tiểu hành tinh này.[1]

Nó là thành viên chính của họ Polana, một nhóm con của họ Nysa.[3] Tiểu hành tinh này có đường kính ước tính khoảng 55,3 km và suất phản chiếu mức thấp là 0,045.[2] Nó quay ở khoảng cách gấp 2,419 lần khoảng cách giữa Trái Đất với Mặt Trời, với chu kỳ quỹ đạo là 3,76 năm và độ lệch tâm 0,14.

Trong phân loại Tholen, Polana không phải là một tiểu hành tinh cacbon nguyên thủy loại F, mà thuộc các tiểu hành tinh loại C phổ biến hơn.[1] Theo phân loại SMASS, Polana được phân loại là tiểu hành tinh loại B, một dạng kết hợp giữa loại B Tholen và loại F. Quang phổ của nó có lớp màu xanh cho thấy sự hiện diện của magnetite (Fe3O4), một đặc tính của lớp SMASS.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h “142 Polana”. JPL Small-Body Database Browser. Ngày 14 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ a ă â Lazzarin, M.; Barbieri, C.; Barucci, M. A. (tháng 12 năm 1995), “Visible Spectroscopy of Dark, Primitive Asteroids”, Astronomical Journal 110: 3058, Bibcode:1995AJ....110.3058L, doi:10.1086/117747 
  3. ^ Cellino, A. và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2001). “The Puzzling Case of the Nysa-Polana Family”. Icarus 152 (2): 225–237. Bibcode:2001Icar..152..225C. doi:10.1006/icar.2001.6634. 
  4. ^ Yang, Bin; Jewitt, David (tháng 9 năm 2010), “Identification of Magnetite in B-type Asteroids”, The Astronomical Journal 140 (3): 692–698, Bibcode:2010AJ....140..692Y, arXiv:1006.5110, doi:10.1088/0004-6256/140/3/692 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]