ARIA (manga)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
ARIA
Aria the Natural DVD boxset 02 cover.jpg
アリア
Thể loạiDrama, khoa học viễn tưởng, những câu chuyện cuộc sống, dần trưởng thành
Manga
Aqua
Tác giảAmano Kozue
Nhà xuất bản
  • Enix (trước)
  • Mag Garden (sau)
  • Nhà xuất bản tiếng Việt
  • Vàng Anh Comics
  • Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin
  • Nhà xuất bản khác
  • Pháp Kami
  • Đức Tokyopop Germany
  • Ý Star Comics
  • Tây Ban Nha Editorial Ivrea
  • Indonesia M&C Comics
  • Hàn Quốc Bookbox
  • Đài Loan Tong Li Comics
  • Thái Lan Bongkoch Comics
  • Canada Hoa Kỳ Tokyopop
  • Đối tượngShōnen / Shōjo
    Tạp chíMonthly Stencil
    Đăng tải20012002
    Số tập2
    Manga
    ARIA
    Tác giảAmano Kozue
    Nhà xuất bảnMag Garden
    Nhà xuất bản tiếng Việt
  • Vàng Anh Comics
  • Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin
  • Nhà xuất bản khác
  • Pháp Kami
  • Đức Tokyopop Germany
  • Ý Star Comics
  • Tây Ban Nha Editorial Ivrea
  • Indonesia M&C Comics
  • Hàn Quốc Bookbox
  • Đài Loan Tong Li Comics
  • Thái Lan Bongkoch Comics
  • Canada Hoa Kỳ Tokyopop
  • Đối tượngShōnen / Shōjo
    Tạp chíComic Blade
    Đăng tảiNgày 10 tháng 11 năm 2002Tháng 4 năm 2008
    Số tập12
    Anime truyền hình
    ARIA the Animation
    Đạo diễnSatō Jun'ichi
    Hãng phimHal Film Maker
    Cấp phép
  • Canada Hoa Kỳ The Right Stuf International
  • Đài Loan Muse Communication
  • Cấp phép và phân phối khác
    Ý Yamato Video
    Kênh gốcTXN
    Kênh khác
  • Hàn Quốc Animax Korea
  • Ý Rai Sat Smash Girls
  • Philippines QTV Channel 11
  • Phát sóng Ngày 05 tháng 10 năm 2005 Ngày 28 tháng 12 năm 2005
    Số tập13
    Anime truyền hình
    ARIA the Natural
    Đạo diễnSatō Jun'ichi
    Hãng phimHal Film Maker
    Cấp phép
  • Canada Hoa Kỳ The Right Stuf International
  • Đài Loan Muse Communication
  • Cấp phép và phân phối khác
    Ý Yamato Video
    Kênh gốcTXN
    Kênh khác
  • Hàn Quốc Animax Korea
  • Ý Rai Sat Smash Girls
  • Phát sóng Ngày 02 tháng 4 năm 2006 Ngày 26 tháng 9 năm 2006
    Số tập26
    OVA
    ARIA the OVA: Arietta
    Đạo diễnSatō Jun'ichi
    Kịch bảnSatō Jun'ichi
    Hãng phimHal Film Maker
    Cấp phép
  • Canada Hoa Kỳ The Right Stuf International
  • Đài Loan Muse Communication
  • Phát hànhNgày 21 tháng 9 năm 2007
    Thời lượng / tập30 phút
    Anime truyền hình
    ARIA the Origination
    Đạo diễnSatō Jun'ichi
    Hãng phimHal Film Maker
    Cấp phép
  • Canada Hoa Kỳ The Right Stuf International
  • Đài Loan Muse Communication
  • Cấp phép và phân phối khác
  • Pháp Kaze
  • Ý Yamato Video
  • Kênh gốcTXN
    Kênh khác
  • Ý Rai Sat Smash Girls
  • Philippines QTV Channel 11
  • Phát sóng Ngày 08 tháng 1 năm 2008 Ngày 31 tháng 3 năm 2008
    Số tập13 + 1 (tập DVD)
    Chủ đề Anime và manga

    ARIA (アリア) tựa của loạt manga nói về một xã hội phát triển không tưởng với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển ấn tượng, loạt manga được thực hiện bởi Amano Kozue. Nó ban đầu có tên là Aqua (アクア) khi đăng trên tạp chí Monthly Stencil của Enix, sau đó đổi tên lại sau khi chuyển qua tạp chí Comic Blade của Mag Garden. Aqua đã đăng trên tạp chí Monthly Stencil từ năm 2001 đến năm 2002 và tập hợp lại thành 2 tankōbon. ARIA đã đăng trên tạp chí Comic Blade từ tháng 11 năm 2002 đến tháng 4 năm 2008, sau đó tập họp lại thành 12 tankōbon. Vàng Anh Comics liên kết với Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin đã mua bản quyền phát hành Việt Nam.

    Bối cảnh của truyện là vào thế kỷ thứ 24 sau khi Sao Hỏa đã được biến đổi địa khai hóa phù hợp với sự sống và được đặt tên lại với tên là Aqua, cốt truyện xoay quanh cô gái tên Mizunashi Akari, cô là người chèo thuyền gondola. Loạt manga được khen ngợi vì cốt truyện nói về cuộc sống bình yên chậm rãi, với một thế giới tràn đầy lạc quan, về những phong cách nghệ thuật tuyệt mĩ và về chất lượng của âm nhạc trong anime.

    Hal Film Maker đã chuyển chuyển thể ARIA thành anime với tên ARIA the Animation và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 05 tháng 10 đến ngày 28 tháng 12 năm 2005 với 13 tập. Bộ anime thứ hai đã được thực hiện với tên ARIA the Natural phát sóng từ ngày 02 tháng 4 đến ngày 26 tháng 9 năm 2006 với 26 tập. Một tập OVA cũng đã được phát hành vào ngày 21 tháng 9 năm 2007. Bộ anime thứ ba mang tựa ARIA the Origination đã được thực hiện và phát sóng từ ngày 08 tháng 1 đến ngày 31 tháng 3 năm 2008 với 13 tập, sau đó khi phát hành DVD thì có thêm một tập nữa thêm vào.

    Tổng thể[sửa | sửa mã nguồn]

    AquaARIA lấy bối cảnh vào đầu thế kỷ 24, bắt đầu vào năm 2301 tại thành phố Neo-Venezia trên hành tinh Aqua, trước đó nó gọi là Sao Hỏa và được đổi tên sau khi địa khai hóa để phù hợp với sự sống 150 năm trước đó, nó được bao bọc bởi biển. Neo-Venezia giống như Venice về cả kiến trúc cũng như bầu không khí với một thành phố cảng với các con kênh thay cho đường sá và di chuyển bằng những chiếc thuyền gondola không có động cơ.

    Trong phần mở đầu của Aqua một cô gái trẻ tên Akari đã đi từ Manhome (trước đó gọi là Trái Đất) để trở thành người chèo thuyền gondola tập sự cho công ty ARIA, một trong ba công ty có uy tín nhất thành phố trong việc hướng dẫn du khách trên thuyền. Cô có ước mơ trở thành một undine (người chèo thuyền kiêm hướng dẫn viên du lịch). Trong quá trình luyện tập của mình Akari đã kết bạn với người cố vấn của mình là Alicia và các nhân viên từ các công ty khác như Aika, Alice, Akira và Athena cũng như các nhân vật khác trong thành phố Neo-Venezia.

    Mỗi chương là một góc của cuộc sống, Akari bắt đầu khám phá thế giới trên chiếc gondola của mình trong thành phố Neo-Venezia cũng như chính hành tinh Aqua. Amano thường xuyên sử dụng nhiều trang một lúc để mô tả thế giới với phong cách nghệ thuật mà thực vật đóng vai trò chủ yếu, diễn tả những hoạt động hằng ngày với các sự kiện chỉ xảy ra một lần trong đời. Nó được so sánh là có giai điệu và các hiệu ứng giống như Yokohama Kaidashi Kikō.

    Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

    Theo lời tự bạch ở cuối tập 2 của Aqua thì mục đích tác giả Amano Kozue khi vẽ loạt manga này là muốn mọi người tìm được niềm vui thậm chí trong những chuyện nhỏ nhặt nhất và không nên quá tập trung bi quan vào những thất bại của họ[1]. Trong một lời tự bạch khác, tác giả nói rằng ARIA đã buộc bà phải chú ý vào sự thay đổi của bốn mùa và hy vọng rằng loạt manga có thể mô tả đúng những suy nghĩ của bà với bốn mùa[2]. Amano đã dựa vào chu trình quay 668,6 ngày của Sao Hỏa để phát triển lịch 24 tháng sử dụng trong loạt manga với mỗi mùa kéo dài 6 tháng, Amano đã mô tả thởi gian trôi đi cùng sự thay đổi của các mùa thông qua một số phương tiện trong manga như Akari luôn nói rõ về thời gian hiện tại trong năm[3] và mùa được mêu tả rất rõ qua các lễ hội như lễ hội pháo hoa, ngày giao thừa hay ngày sinh nhật của các nhân vật.

    Các kiến trúc sư xây dựng lên thành phố Neo-Venezia đã tạo nên thế giới của AquaARIA dựa theo hình tượng thành phố Venice trước khi nó bị chìm trong thế kỷ 21[4], có thể dễ dàng nhận ra điều này qua các kiến trúc tương tự xuất hiện trong loạt manga như quảng trường San MarcoCầu Than Thở. Khi tạo ra Neo-Venezia, Amano đã đặt những địa danh hư cấu vào những địa danh thật tại Ventian[5].

    Amano cũng kết hợp những địa danh có thật khác vào trong ARIA như như ngôi đền Nhật Bản xuất hiện trong tập 1 của ARIA có kiến trúc dựa trên ngôi đền Fushimi Inari-taisha gần Tokyo[6].

    Anime[sửa | sửa mã nguồn]

    Như một phần của việc thực hiện cho bộ anime đầu tiên, nhóm làm anime do Satō Jun'ichi dẫn đầu đã lên đường đến Venice để thu thập tài liệu. Hiệu ứng và hoạt động cho anime mô tả các chiếc gondola khi đang di chuyển là kết quả của việc nhóm phải vẽ lại nhiều lần trong tập anime đầu tiên làm sao cho nó giống thật nhất[7]. Satō đã cho biết là đã nhìn thấy một người chèo thuyền gondola dùng mái chèo để khiều một cái chai lên khỏi mặt nước và hành động này đã được đưa vào tập 11 của bộ anime ARIA the Animation khi Alicia làm việc tương tự với một trái bóng với các hành động mà manga không thể miêu tả chi tiết được[8]. Như một phần trong việc phát triển mà công ty đã cam kết là bám sát vào loạt manga và cân nhắc trong việc chọn diễn viên lồng tiếng, họ đã phải đọc tất cả các tập manga AquaARIA đã phát hành đến khi đó hơn là dựa hoàn toàn vào các bức ảnh mà họ chụp trong chuyến đi[9][10].

    Theo Satō Jun'ichi thì đã có một cuộc tranh luận để quyết định sử dụng các chi tiết nào cho 13 tập của bộ anime đầu tiên vốn có cốt truyện tập trung vào nhân vật Akari[11]. Bộ anime thứ hai có tựa ARIA the Natural do bộ anime có 26 tập đã cho phép Jun'ichi xử lý cốt truyện một cách "tự nhiên" (Natural) hơn[12] cũng như đủ dài để nói về các nhân vật khác[13].

    Choro Club và Senoo Takeshi đã soạn 30 bản nhạc cho bộ anime đầu tiên và 15 bản cho bộ anime thứ hai[14]. Satō Jun'ichi và người thiết kế âm thanh Satō Yasuno đã giao cho Choro Club và Senoo Takeshi việc thiết kế nhạc nền nhiều hơn là nhạc mô tả tình huống[15][16], việc này không quen thuộc với các nhà soạn nhạc nhất là những người chưa có kinh nghiệm với việc thực hiện các anime. Senoo Takeshi và ba thành viên của Choro Club cũng đã xuất hiện như vai phụ với vai trò nhạc sĩ trong tập 23 của ARIA the Natural[17]. Senoo Takeshi đã soạn bài hát chủ đề kế thúc của ARIA the Natural có tựa Smile Again và nó được trình bày bởi Hazuki Erino trong vai Akari, bài hát mô tả sự kết thúc của mùa hè[18].

    Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

    Manga[sửa | sửa mã nguồn]

    Loạt manga được thực hiện bởi Amano Kozue và lịch sử phát hành của nó hơi lộn xộn. Aqua là tên đầu tiên của loạt manga này khi nó đăng trên tạp chí Monthly Stencil của Enix trong năm 2001 và gần hết năm 2002, sau đo nó đã tập hợp thành 2 tankōbon. Khi loạt manga này chuyển sang đăng trên tạp chí Comic Blade của Mag Garden từ tháng 11 năm 2002 thì nó đổi tên lại thành ARIA. Mag Garden cũng đã tái bản Aqua thêm vào vài chi tiết cùng các hình bìa mới[19]. Với 70 chương cả AquaARIA đã được xuất bản thành 14 tankōbon với mỗi tập có 5 chương.

    Tại Việt Nam truyện được mua bản quyền bởi Vàng Anh Comics liên kết với Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin[20]. ADV Manga đã phát hành ba tập phiên bản tiếng Anh của ARIA vào năm 2004 trước khi trả lại bản quyền phát hành[21]. Sau đó bản quyền được chuyển cho Tokyopop và công ty đã phát hành phiên bản tiếng Anh của cả Aqua cũng như ARIA[22][23],[24]. Phiên bản tiếng Pháp được đăng ký bản quyền bởi Kami[25][26], phiên bản tiếng Đức được đăng ký bản quyền bởi Tokyopop Germany[27][28], phiên bản tiếng Ý được đăng ký bản quyền bởi Star Comics[29][30], phiên bản tiếng Tây Ban Nha được đăng ký bản quyền bởi Editorial Ivrea[31]. Tại Đài Loan bản quyền được giữ bởi Tong Li Comics[32], tại Indonesia bản quyền được giữ bởi M&C Comics[33][34] tại Hàn Quốc bản quyền được giữ bởi Bookbox[35] và tại Thái Lan bản quyền được giữ bởi Bongkoch Comics[36][37].

    Anime[sửa | sửa mã nguồn]

    Hal Film Maker đã chuyển thể ARIA thành anime với 54 tập chia thành ba bộ và một OVA. Ba bộ anime có tên ARIA the Animation phát sóng từ ngày 05 tháng 10 đến ngày 28 tháng 12 năm 2005 với 13 tập, ARIA the Natural phát sóng từ ngày 02 tháng 4 đến ngày 26 tháng 9 năm 2006 với 26 tập và ARIA the Origination phát sóng từ ngày 08 tháng 1 đến ngày 31 tháng 3 năm 2008 với 13 tập, cả ba bộ anime đều được phát trên kênh TV Tokyo Network, bộ anime thứ ba có một tập thêm vào khi phát hành DVD. Tập OVA có tựa ARIA the OVA: Arietta phát hành vào ngày 21 tháng 9 năm 2007. Jun'ichi Satō đã đạo diễn cho tất cả các bộ anime này và Koga Makoto nhận phần thiết kế nhân vật. Các bộ anime này đã được phát hành thành DVD tại Nhật Bản[38].

    Nozomi Entertainment đã đăng ký bản quyền phát hành tại thị trường Bắc Mỹ cho tất cả các bộ anime. Bộ đĩa DVD cho bộ anime với phụ đề tiếng Anh đã phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2008[39]. Bộ anime thứ hai phát hành thành hai bộ đĩa DVD vào ngày 29 tháng 1 và ngày 24 tháng 3 năm 2009[40][41]. Bộ hộp DVD của bộ anime thứ ba bao gồm luôn tập thêm (xem như tập 5,5) và tập OVA phát hành vào ngày 02 tháng 3 năm 2010[42]. Animax Asia đã đăng ký bản quyền của bộ anime tại Hàn Quốc[43][44], Muse Communication đăng ký bản quyền tại Đài Loan[45], Kaze đang ký bản quyền tại Pháp[46] và Yamato Video đăng ký bản quyền tại Ý[47].

    Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

    Bốn loạt drama CD đã phát hành cho ARIA. Loạt đầu tiên phát hành trước khi anime được thực hiện vì thế nó được lồng tiếng bởi các diễn viên không tham gia lồng tiếng trong loạt anime, ba loạt tiếp theo được thực hiện cùng với ba bộ anime vì thế nó được lồng tiếng bởi các diễn viên lồng tiếng cho các bộ anime.

    Loạt đầu tiên gồm hai đĩa drama CD dựa vào các tập đầu của ARIA phát hành vào ngày 25 tháng 8 năm 2004[48] và ngày 24 tháng 8 năm 2005[49]. Một đĩa dựa vào Aqua phát hành vào ngày 22 tháng 9 năm 2005[50].

    Loạt thứ hai được thực hiện chung với bộ anime ARIA the Animation. Nó có các drama CD mang tựa Blue, RedOrange theo màu của trang phục trong từng công ty ARIA Company, Himeya Company và Orange Planet đã phát hành vào các ngày 25 tháng 11 năm 2005[51], 22 tháng 12 năm 2005[52] và 25 tháng 1 năm 2006[53]. Một bộ hộp đĩa tập hợp loạt drama CD này đã phát hành ngày 27 tháng 7 năm 2009 với một đĩa drama CD mới như vật đính kèm[54], bộ hộp đĩa này xếp hạng thứ 62 trên bản xếp hạng Oricon[55].

    Loạt thứ ba được thực hiện chung với bộ anime ARIA the Natural. Nó bao gồm hai drama CD phát hành ngày 23 tháng 6 năm 2006[56] và ngày 21 tháng 7 năm 2006[57]. Một bộ hộp đĩa tập hợp loạt drama CD này đã phát hành ngày 27 tháng 1 năm 2010 với một đĩa drama CD mới như vật đính kèm[58], bộ hộp đĩa này xếp hạng thứ 82 trên bản xếp hạng Oricon[59].

    Loạt thứ tư được thực hiện chung với bộ anime ARIA the Origination. Với ba drama CD mang tựa Yuki, TsukiHana phát hành ngày 21 tháng 3 năm 2008[60], 23 tháng 4 năm 2008[61] và 24 tháng 5 năm 2008[62]. Yuki, TsukiHana đã xếp hạng thứ 87, 55 và 48 trên bản xếp hạng Oricon[63][64][65].

    Một số đĩa drama CD khác là vật đính kèm cho từng tập sách ARIA Perfect Guide.

    Internet Radio[sửa | sửa mã nguồn]

    Một chương trình tên ARIA the Station đã phát trên mạng qua onsen.ag và Animate, nó đã được thực hiện cùng với ba bộ anime[66][67]. 115 chương trình đã được tập hợp thành ba bộ và phát hành thành các đĩa CD. Chương trình radio có sự tham gia của Hazuki Erino đóng vai Mizunashi Akari và Nishimura Chinami đóng vai President ARIA Pokoteng, cùng nhiều người khác đã tham gia lồng tiếng cho bộ anime đã tham gia như khách mời và đóng vai nhân vật mà họ đã lồng tiếng[68].

    Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

    ARIA cũng được chuyển thể thành hai loạt light novel và phát hành bởi Mag Garden. Loạt đầu tiên có tên Mizu no Miyako to Kanashiki Utahime no Monogatari (水の都と哀しき歌姫の物語) viết bởi Fujisaki Ayuna, nó đã được tập hợp lại và phát hành vào ngày 28 tháng 2 năm 2006[69]. Loạt thứ hai mang tên Shiki no Kaze no Okurimono (四季の風の贈り物) được viết bởi Okada Mari, Fujisaki Ayuna, Urahata Tatsuhiko và Yoshida Reiko tất cả được tập hợp lại và phát hành vào ngày 10 tháng 1 năm 2008[70].

    Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

    Alchemist đã phát triển và phát hành hai visual novel cho hệ PlayStation 2 dựa theo ARIA. Cả hai đều được phát hành với phiên bản giới hạn và bình thường.

    ARIA the Natural ~Tooi Yume no Mirage~ đã được phát hành ngày 28 tháng 9 năm 2006[71]. Nó đã được tái phát hành ngày 06 tháng 3 năm 2008 như một phần trong bộ Alchemist Best Collection[71].

    ARIA the ORIGINATION ~Aoi Hoshi no Il Cielo~ đã phát hành ngày 26 tháng 6 năm 2008[72]. Nó đã được xếp thứ 30 trên bản xếp hạng Famitsu về doanh thu trong tuần đầu tiên phát hành với 7221 bản được tiêu thụ[73].

    Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

    Các album nhạc cho ARIA đã được phát hành. Mỗi bộ anime có một album riêng, hai album tập hợp các bản nhạc trình bày bằng piano, một album tập hợp các bài hát và một album với các bản biến tấu khác nhau. Các đĩa đơn chứa các bài hát mở đầu và kết thúc của cả ba bộ anime, tập OVA, hai visual novel cũng đã phát hành. Hầu hết các album này đều xuất hiện trên bản xếp hạng Oricon với vị trí đạt được cao nhất của các album nhạc là hạng 30 của ARIA the Natural Vocal Song Collection[74] và hạng cao nhất dành cho đĩa đơn là hạng 18 của Euforia với bài hát mở đầu của ARIA the Natural[75].

    Bộ anime đầu có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Undine (ウンディーネ) do Makino Yui trình bày, bài hát kết thúc có tựa Rainbow do ROUND TABLE feat. Nino trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2005. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime này đã phát hành vào ngày 23 tháng 11 năm 2005.

    Bộ anime thứ hai có năm bài hát chủ đề, hai bài hát mở đầu và ba bài kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất có tựa Euforia (ユーフォリア) do Makino Yui trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 26 tháng 4 năm 2006. Bài hát mở đầu thứ hai là bài Undine (ウンディーネ) cũng do Makino Yui trình bày, dùng trong tập 16 và 17, đây cũng là một trong các bài hát chủ đề của bộ anime thứ nhất. Bài hát kết thúc thứ nhất là bài Natsumachi (夏待ち) do ROUND TABLE feat. Nino trình bày, dùng từ tập 1 đến 15, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 26 tháng 4 năm 2006. Bài hát kết thúc thứ hai là bài Smile Again do Hazuki Erino trình bày dùng từ 16 đến 25, bài hát kết thúc thứ ba là bài Rainbow do ROUND TABLE feat. Nino trình bày dùng trong tập 26, hai bài hát này đã phát hành chung với album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày vào ngày 06 tháng 9 năm 2006. Album chứa các bản nhạc dùng trong anime thì đã phát hành vào ngày 24 tháng 5 năm 2006.

    Tác phẩm visual novel ARIA The Natural ~Tooi Yume no Mirage~ có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. bài hát mở đầu có tựa BLUE BLUE WAVE và bài hát kết thúc có tựa Sono Chiisana Chiisana Biemi de (その小さな小さな微笑みで) cả hai đều do KAORI trình bày, đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 06 tháng 10 năm 2006. Album chứa tất cả các bản nhạc dùng trong trò chơi đã phát hành vào ngày 28 tháng 9 năm 2006 dưới dạng đĩa đính kèm với phiên bản giới hạn của trò chơi.

    Tập Aria the OVA ~Arietta~ có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Nanairo no Sora wo (七色の空を) do SONOROUS trình bày và bài hát kết thúc có tựa Ashita, Yuugure made (明日、夕暮れまで) do Hazuki Erino trình bày, đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 21 tháng 9 năm 2007.

    Bộ Aria the Origination có ba bài hát chủ đề, một mở đầu và hai kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Spirale (スピラーレ) do Makino Yui trình bày, bài hát kết thúc thứ nhất là bài Kin no Nami Sen no Nami (金の波 千の波) do Arai Akino trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 23 tháng 01 năm 2008. Bài hát kết thúc thứ hai dùng trong tập 13 cũng là một trong các bài hát của các bộ anime trước là bài Undine (ウンディーネ) do Makino Yui trình bày. album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 20 tháng 2 năm 2008.

    Tác phẩm visual novel ARIA the ORIGINATION ~Aoi Hoshi no Il Cielo~ cũng có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. bài hát mở đầu có tên Graceful Way do Kicco trình bày, bài hát kết thúc có tên Il Cielo do Hanazawa Kana trình bày. Đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 25 tháng 7 năm 2008.

    Hai album trình bày các bản nhạc bằng piano đã phát hành vào ngày 02 tháng 8 năm 2006 và 12 tháng 3 năm 2008. Album ban đầu dự tính sẽ tập hợp toàn bộ các bản nhạc được trình bày bằng piano dùng trong các bộ anime nhưng sau khi bộ Origination được phát hành thì album thứ hai cũng được thực hiện.

    Một album chứa các bản nhạc chọn lọc dùng trong có tên ARIA the BOX gồm ba đĩa đã phát hành vào ngày 23 tháng 9 năm 2009. Đĩa đầu tiên chứa 25 bản nhạc hay nhất của toàn bộ loạt anime, đĩa thứ hai chứa 15 bài hát chủ đề và bài hát phụ, đĩa thứ ba chứ 15 bài hát với các phiên bản chưa từng được phát hành.

    Ngoài ra còn một album có tên Himawari - Eri Kawai Tribute được thực hiện và phát hành vào ngày 24 tháng 12 năm 2008. Đây là album để tưởng nhớ Kawai Eri sau khi cô qua đời vào ngày 04 tháng 8 năm 2008 vì ung thư gan.

    Sách[sửa | sửa mã nguồn]

    Mag Garden đã phát hành ba cuốn artbookAlpha vào ngày 29 tháng 1 năm 2004[76], Stella vào ngày 29 tháng 3 năm 2005[77]Cielo vào ngày 30 tháng 8 năm 2006[78][79]. Các cuốn sách này có chứa các hình vẽ tay và hình phác thảo do Amano Kozue thực hiện sử dụng trong AquaARIA. Cuốn thứ tư là ARIA the Illustration Avvenire phát hành vào ngày 24 tháng 12 năm 2008[80][81][82] có các hình ảnh nghệ thuật sử dụng trong anime, trò chơi điện tử, drama CD và các vật phỏng theo khác. Ngoài ra ba cuốn sách poster cũng đã được phát hành là ARIA Premium Poster Book phát hành ngày 22 tháng 12 năm 2005[83], ARIA Premium Poster Book 2 phát hành ngày 22 tháng 12 năm 2006[84][85]ARIA Premium Poster Book 3 phát hành ngày 22 tháng 12 năm 2007[86][87].

    Mag Garden cũng đã phát hành 4 cuốn sách hướng dẫn. Cuốn đầu là ARIA Navigation Guide phát hành vào ngày 29 tháng 10 năm 2005[88]. Nó tập trung vào loạt manga với nhiều hình nền, giới thiệu về nhân vật và bản tóm tắt cốt truyện từ Aqua cho đến tập 7 của ARIA[89]. Ba cuốn sách hướng dẫn khác dựa trên ba bộ anime, các cuốn sách này chứa nội dung tóm tắt của từng tập, mô tả các nhân vật chính và phụ cùng nhiều thứ liên quan đến anime khác. Các cuốn sách này cũng có các chương manga thêm và đĩa drama CD đính kèm. Ba cuốn sách là ARIA the Animation Perfect Guide Book phát hành ngày 29 tháng 3 năm 2006[90], ARIA the Natural Perfect Guide Book phát hành ngày 22 tháng 12 năm 2006[91][92]ARIA the Origination Perfect Guide Book phát hành ngày 30 tháng 7 năm 2008[93]. Ngoài ra Shinkigesha cũng đã phát hành hai sách hướng dẫn cho hai trò chơi điện tử của Alchemist với các hình nền, giới thiệu nhân vật cùng việc tóm tắt cốt truyện và giới thiệu các kết thúc khác nhau. Hai cuốn sách là ARIA the Natural: Tooi Yume no Mirage Game Material Collection phát hành vào ngày 22 tháng 12 năm 2006[94]ARIA the Origination: Aoi Hoshi no El Cielo Game Material Collection phát hành vào ngày 01 tháng 9 năm 2008[95][96].

    Mag Garden cũng đã phát hành ba cuốn sách hình từ tháng 3 năm 2007. Mỗi cuốn đều được đóng bìa cứng và tập trung vào các chú mèo linh vật của các công ty khác nhau. Nó còn giới thiệu các vật dụng khác nhau trong truyện và được minh họa bởi Kozue Amano[97]. Ba cuốn sách là President Maa Picture Book phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2007[98], President Hime Picture Book phát hành ngày 20 tháng 3 năm 2007[99]President ARIA Picture Book phát hành ngày 30 tháng 3 năm 2007[100].

    Shinko Music đã phát hành cuốn sách nhạc có tên ARIA the Best Selection vào tháng 7 năm 2008. Nó viết các bài hát chủ đề của cả ba bộ anime[101].

    Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

    Tại Nhật Bản các tập mới phát hành của ARIA thường xuyên lọt vào danh sách manga bán chạy nhất[102] và nó đã bán được hơn 3 triệu bản cho đến tháng 7 năm 2007 chiếm 11% số lượng manga mà nhà xuất bản của nó từng bán được[103].

    Phiên bản tiếng Anh của loạt manga ARIA đã được đánh giá bởi những nhà phê bình của The Comics Journal là "Khá chính xác khi xem đây là loạt truyện tranh hay nhất dành cho cô bé học tiểu học", họ gọi nó là "Một kiệt tác trong cả cốt truyện và nét vẽ, một góc nhìn tuyệt đẹp giúp bồi đắp cho trí tưởng tượng của trẻ thơ trong khả năng của mình để mang đến hình ảnh một thế giới hiện thực và đầy đủ."[21]. AquaARIA cùng được khen ngợi về những niềm vui một cách bình lặng mà nó nói đến[104][105][106], mô tả sinh động về một thế giới tương lai[107], những khoảnh khắc kỳ diệu[106][108] và những cảm giác thay đổi sinh động khác nhau[107][108][109]. Nét vẽ của Amano được khen ngợi bởi sự sắt nét và chi tiết của mình đặc biệt là hình nền và phong cảnh[109][110]. Amano cũng bị nói là thường gây nhầm lẫn tên nhân vật khi mà tên của tất cả các nhân vật đều bắt đầu bằng chữ A[106][108][111], việc mô tả cuộc sống trong xã hội quá xa vời[105] cũng như nhân vật Akari quá ngọt ngào và thường hay giãi bày tâm sự[112].

    Năm 2006 bộ anime ARIA đã đứng cùng với 100 bộ anime được xem nhiều nhất mà kênh TV Asahi từng phát sóng[113]. Năm 2007 hai bộ anime đầu của ARIA đã bán được hơn 300.000 bản DVD[103].

    Bộ anime được khen vì bầu không khí tĩnh lặng của nó[114][115][116], với hình ảnh đẹp[117] đặc biệt là hình nền[118] và phần âm nhạc gây ấn tượng đặc biệt[119][120]. Anime News Network đã mô tả bộ anime đầu tiên là "Một tương lai tưởng tượng tuyệt đẹp với con người thật đáng yêu", trong đó "Mỗi tập phim là một bài thơ với các giai điệu chậm xưa tinh xảo ngập tràn niềm vui trong nhịp điệu chậm rãi của cuộc sống và với một sự thanh lịch đáng tự hào về một nơi mà ngay cả các tia sáng trong năm cũng không phải là tầm thường khi nó nâng giá trị của cốt truyện lên."[114]. IGN thì so sánh ARIA với Maria-sama ga Miteru cùng với những tác phẩm khác, những tác phẩm mà cũng không có các tình tiết mạnh mẽ cũng như không có nhiều việc xảy ra, với nhận định "Maria-sama tăng mức độ kịch tính lên bất cứ khi nào có thể, mặc dù, cũng như không bao giờ để ý đến việc các kịch tính của nó vốn xoay quanh những việc hoàn toàn không quan trọng. ARIA thì khác, nó nhẹ nhàng và thư giãn. Cũng như dễ dàng thừa nhận rằng cốt truyện hoàn toàn không phải là trong tâm của tác phẩm này."[121]. Một số nhận xét khác thì nói các nhân vật chính là điểm để tác phẩm trở nên hấp dẫn[116][122][123][124], tuy nhiên cũng co chỉ trích là các nhân vật như thế không thể có thật[125]. Việc lồng tiếng của Hazuki Erino (Akari) và Minagawa Junko (Akira) cũng được khen ngợi đặc biệt[126][127]. Một số nhận định khác là tác phẩm không phù hợp với sở thích của tất cả mọi người vì nó có nhịp độ chậm và thể hiện một cái nhìn rất lạc quan[128][129][130][131].

    Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

    1. ^ Amano, Kozue (tháng 3 năm 2002). Aqua volume 2 (bằng tiếng Nhật). Enix. tr. 177. ISBN 978-4-7575-0647-3. Vì một số lý do, những kỷ niệm xấu thường tồn tại lâu hơn những kỷ niệm tốt. Bạn bắt đầu nghĩ mình thật bất hạnh. Có thể bạn đã bỏ qua và không nhận ra những hạnh phúc mà mình đã có, rốt cuộc bạn sẽ suy nghĩ quá nhiều vào những thất bại của mình. Tôi thực hiện Aqua này để tất cả các bạn tìm ra những hạnh phúc dù là nhỏ nhặt nhất và khiến bạn phải suy nghĩ lại. Sau khi bạn đọc những lời của tôi, nếu như ai đó có thể tìm ra sự hạnh phúc đó, nó sẽ khiến tôi trở thành người hạnh phúc nhất. (反対に幸せなことって 見落としがちだし すぐに馴れて幸せとも 感じなくなっちゃうんだなぁ そんな小さな「幸せ」が 少しでも見つけられたら いいな---なんて思って AQUAを描かせて いただきました この作品を読んだ後で ほんのちょっぴりでも 「幸せ」を感じてくれた人が いてくれたなら...私は 最高の幸せ者です)  .
    2. ^ Amano, Kozue (tháng 5 năm 2008). “Ennui Club”. ARIA volume 2. Tokyopop. tr. 189. ISBN 978-1-4278-0511-9. Từ khi tôi bắt đầu vẽ ARIA tôi bắt đầu quan tâm hơn đến sự thay đổi của bốn mùa. Tôi thật vui khi được sống tại Nhật bản nơi có thể cảm nhận được bốn mùa rõ rệt. Nó cũng sẽ khiến tôi vô cùng hạnh phúc nếu tôi có thể diễn đạt thành công những dòng suy nghĩ của mình về bốn mùa vào loạt manga này. 
    3. ^ Ví dụ như đoạn mở đầu của chương 112 trong tập 12 của ARIA.
    4. ^ Amano, Kozue (tháng 1 năm 2008). “Navigation 01: Neo-Venezia”. ARIA volume 1. Tokyopop. tr. 9. ISBN 978-1-4278-0510-2. 
    5. ^ “Venice The Origination”. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
    6. ^ Amano, Kozue (tháng 1 năm 2008). “Ennui Club”. ARIA volume 1. Tokyopop. tr. 182. ISBN 978-1-4278-0510-2. 
    7. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2008). "Venice, I'm Sorry", part 1 (ARIA The Animation DVD Collection (DVD 1/4)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 6:55. When we actually saw the real thing it was completely different. We were totally off the mark. [...] We took back the shots where they're sculling and fixed it. 
    8. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2008). "Venice, I'm Sorry", part 6 (ARIA The Animation DVD Collection (DVD 4/4)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 12:30. Chúng tôi ngồi trên thuyền để đi dạo một vòng và một cái chai trôi qua trên đường đi. Bất ngờ có một tiếng động phía sau chúng tôi. Khi chúng tôi nhìn ra sau thì cái chai đã đang bay lên mặt đất. 
    9. ^ Tomoko Kawakami (voice actor) (2008). "Primas Interview", part 1 (ARIA The Animation DVD Collection (DVD 3/4)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:00 then 3:15. Thay vì cho xem những bức hình ngay như họ thường làm thì họ lại nói "Tập X đã được phát hành bởi nhà xuất bản X xin hãy mua nó và tự mình tìm hiểu." [...]. Tôi cảm thấy họ xem tôi như một quý cô. 
    10. ^ Sayaka Ohara (voice actor) (2008). "Primas Interview", part 1 (ARIA The Animation DVD Collection (DVD 3/4)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:09 then 3:28. Đôi khi họ cũng cho xem vài xấp hình.[...] Họ thật sự tiếp chúng tôi rất tốt. 
    11. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2009). "Interview with Director Junichi Saito" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:50. In the previous series, the story revolved around the character of Akari. 
    12. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2009). "Interview with Director Junichi Saito" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:56. Well, I wanted things to progress naturally, so that's kind of reason why. 
    13. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2009). "Interview with Director Junichi Saito" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 4:05. I'd like to incorporate some of those stories about the other characters. 
    14. ^ Yasuno Satō (Sound Designer) (2009). "ARIA and the world of sound" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 1:22. Tôi có 30 bản nhạc cho "The Animation". Với "The Natural" thì chó bao nhiêu bản nhỉ? [...] Họ đã soạn 15 bản nhạc, vậy họ đã soạn tổng cộng 45 bản 
    15. ^ Shigeharu Sasago from Choro Club (Music co-director) (2009). "ARIA and the world of sound" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:04. Nó phải rất trừu tượng. Để ví dụ cô ta nói, "Làm bầu trời xanh hát lên." Cô ta đã đưa cho chúng tôi rất nhiều hình ảnh trừu tượng để làm việc với chúng. 
    16. ^ Takeshi Senoo (Music co-director) (2009). "ARIA and the world of sound" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:43. Họ nói, "Khiến núi cao và biển cả hát lên." 
    17. ^ Jun'ichi Satō (Director) (2009). "ARIA and the world of sound" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 10:50. Phải, nó là tập thứ 36. Vì thế, nó là tập 23 của bộ "The Natural". 
    18. ^ Takeshi Senoo (Music co-director) (2009). "ARIA and the world of sound" (ARIA The Natural DVD Collection part 1 (Extra DVD)). USA: Nozomi Entertainment. Sự kiện xảy ra vào lúc 13:26. Bài hát nói về sự kết thúc của mùa hè. [...] Cô không giống như các ca sĩ khác. Cô đã thực hiện nó giống như việc lồng tiếng cho anime. Tôi đã hình dung ra cảnh bài hát được hát bởi nhân vật trong anime. 
    19. ^ Thompson, Jason (2007). Manga: The Complete Guide. New York: Del Rey. tr. 15. ISBN 978-0-345-48590-8. 
    20. ^ http://www.vanganhco.vn/DetailSellingManga.aspx?alias=aria
    21. ^ a ă Dirk Deppey (24 tháng 1 năm 2007). “ADV's Abandoned Manga”. The Comics Journal. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
    22. ^ “Tokyopop Manga License”. Anime News Network. 3 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2007. 
    23. ^ “Tokyopop Confirms 38 Upcoming Manga, Manhwa, Novels”. Anime News Network. 18 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2009. 
    24. ^ “Aqua Vol 1”. Tokyopop. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2008. 
    25. ^ “AQUA” (bằng tiếng Pháp). Kami. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    26. ^ “ARIA” (bằng tiếng Pháp). Kami. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    27. ^ “TOKYOPOP - Bücher: Manga: Aqua” (bằng tiếng Đức). Tokyopop. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    28. ^ “TOKYOPOP - Bücher: Manga: ARIA (2in1)” (bằng tiếng Đức). Tokyopop. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009. 
    29. ^ “AQUA - 1” (bằng tiếng Ý). Star Comics. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    30. ^ “ARIA - 1” (bằng tiếng Ý). Star Comics. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    31. ^ “AQUA / ARIA” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Editorial Ivrea. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
    32. ^ “東立漫遊網 書籍http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bongkoch_Comics&action=edit&redlink=1查詢-書籍資料” (bằng tiếng Trung). Tong Li Comics. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
    33. ^ “AQUA” (bằng tiếng Indonesia). M&C Comics. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
    34. ^ “ARIA” (bằng tiếng Indonesia). M&C Comics. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
    35. ^ “랜덤하우스코리아” (bằng tiếng Triều Tiên). Random House. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
    36. ^ “AQUA 1” (bằng tiếng Thái Lan). Bongkoch Comics. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
    37. ^ “ARIA 1” (bằng tiếng Thái Lan). Bongkoch Comics. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
    38. ^ “TVアニメーション「ARIA The ORIGINATION」公式サイト” (bằng tiếng Nhật). ARIACompany.net. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2009. 
    39. ^ “ARIA the Animation DVD Collection”. Nozomi Entertainment. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2008. 
    40. ^ “ARIA the Natural DVD Collection part 1”. Nozomi Entertainment. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2008. 
    41. ^ “ARIA the Natural DVD Collection part 2”. Nozomi Entertainment. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2008. 
    42. ^ “Right Stuf's Nozomi Ent. Announces ARIA The ORIGINATION (+OVA) DVD Collection for March 2010”. Nozomi Entertainment. 10 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2009. 
    43. ^ “아리아 디 애니메이션” (bằng tiếng Triều Tiên). Animax. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
    44. ^ “아리아 더 내츄럴” (bằng tiếng Triều Tiên). Animax. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
    45. ^ “水星領航員~產品資訊” (bằng tiếng Trung). Muse Communications. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
    46. ^ “ARIA The Origination - Intégrale” (bằng tiếng Pháp). manga-news. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009. 
    47. ^ “ARIA The Animation Stagione 1” (bằng tiếng Ý). Yamato Video. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010. 
    48. ^ ARIA Drama CD I (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    49. ^ ARIA Drama CD II (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    50. ^ Aqua Drama CD (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    51. ^ ARIA the Animation Drama CD I BLUE (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    52. ^ ARIA the Animation Drama CD II RED (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    53. ^ ARIA the Animation Drama CD III Orange (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    54. ^ ARIA the Animation Drama CD Box (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
    55. ^ ARIA The ANIMATION drama CD BOX peak rank” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009. 
    56. ^ ARIA the Natural Drama CD I (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    57. ^ ARIA the Natural Drama CD II (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    58. ^ ARIA the Natural Drama CD Box (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
    59. ^ ARIA The Natural drama CD BOX peak rank” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
    60. ^ ARIA the Origination Drama CD I Yuki (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    61. ^ ARIA the Origination Drama CD II Tsuki (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    62. ^ ARIA the Origination Drama CD III Hana (bằng tiếng Nhật). Frontier Works. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    63. ^ ARIA the Origination Drama CD I Yuki peak rank” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
    64. ^ ARIA the Origination Drama CD II Tsuki peak rank” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
    65. ^ ARIA the Origination Drama CD III Hana peak rank” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
    66. ^ “音泉関連商品取扱商店おといずみ部屋” [ARIA the Station on onsen.ag] (bằng tiếng Nhật). onsen.ag. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
    67. ^ “ARIA the Station on Animate (Archive)” (bằng tiếng Nhật). way back machine/Animate. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
    68. ^ “「ARIA The STATION Tricolore」アリラジ、でっかいリニューアル!第1弾!” [ARIA the Station Tricolore Cour.1 announcement] (bằng tiếng Nhật). onsen.ag. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
    69. ^ “小説ARIA [水の都と哀しき歌姫の物語]” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    70. ^ “小説ARIA [四季の風の贈り物]” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    71. ^ a ă “「ΑRIΑ The NΑTURΑL 〜遠い記憶のミラージュ〜」” [ARIA the Natural video game] (bằng tiếng Nhật). Alchemist company. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    72. ^ “「ARIA The ORIGINATION 〜蒼い惑星のエルシエロ〜アルケベスト」” [ARIA the Origination: Aoi Hoshi no El Cielo] (bằng tiếng Nhật). Alchemist company. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    73. ^ “【ゲームソフト販売本数ランキング TOP30】 集計期間: 2008年6月23日〜6月29日” (bằng tiếng Nhật). Famitsu. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009. 
    74. ^ “ΑRIΑ The NΑTURΑL ボーカルソング・コレクション” [ARIA the Natural Vocal Song Collection peak rank] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
    75. ^ “ユーフォリア” [ARIA the Natural Opening Single "Euforia" peak rank] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
    76. ^ “Alpha 天野こずえ Illustration Works” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    77. ^ “Stella 天野こずえ Illustration Works2” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    78. ^ “Cielo 天野こずえ Illustration Works3” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    79. ^ Adun (ngày 11 tháng 9 năm 2006). “Cielo - Amano Kozue Illustration Works III”. Moé Moé Rabu. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    80. ^ “ARIA The ILLUSTRATION AVVENIRE” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    81. ^ Keiri (ngày 15 tháng 12 năm 2008). “ARIA The Illustration -Avvenire- Ad”. Byakuya 「白夜」 white night. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008. 
    82. ^ Fisherman Horizon (ngày 17 tháng 1 năm 2009). “First look at ARIA The Illustration Avvenire”. Anime & Manga Horizon. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2009. 
    83. ^ “ARIA Premium Poster Book” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    84. ^ “ARIA Premium Poster Book 2” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    85. ^ Adun (ngày 4 tháng 1 năm 2007). “ARIA Premium Poster Book 2 presentation”. Moé Moé Rabu. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    86. ^ “ARIA Premium Poster Book 3” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    87. ^ Adun (ngày 6 tháng 1 năm 2008). “ARIA Premium Poster Book 3 presentation”. Moé Moé Rabu. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    88. ^ “アリア ナビゲーションガイド” [ARIA Navigation Guide] (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009. 
    89. ^ Fisherman Horizon (ngày 13 tháng 8 năm 2007). “ARIA Navigation Guide incomplete presentation”. Anime & Manga Horizon. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009. 
    90. ^ “ARIA The ANIMATION パーフェクトガイドブック” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    91. ^ Adun (ngày 4 tháng 1 năm 2007). “ARIA The Natural Perfect Guide Book presentation”. Moé Moé Rabu. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 
    92. ^ “ARIA The NATURAL パーフェクトガイドブック” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    93. ^ “ARIA The ORIGINATION パーフェクトガイドブック” (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    94. ^ “ARIA The NATURAL〜遠い記憶のミラージュ〜 マテリアルコレクション” (bằng tiếng Nhật). Shinkigesha. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009. 
    95. ^ Fisherman Horizon (ngày 16 tháng 9 năm 2008). “ARIA Origination PS2 presentation”. Anime & Manga Horizon. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009. 
    96. ^ “ARIA The ORIGINATION 蒼い惑星のエルシエロ マテリアルコレクション” (bằng tiếng Nhật). Shinkigesha. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009. 
    97. ^ “TVアニメーション「ARIA The NATURAL」公式サイト” [Cat President Picture Books] (bằng tiếng Nhật). ariacompany.net. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2009. 
    98. ^ “「ARIA」3号連続ぷにフィギュア付書籍①まぁ社長の絵本” [President Maa Picture Book] (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    99. ^ “「ARIA」3号連続ぷにフィギュア付書籍②ヒメ社長の絵本” [President Hime Picture Book] (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    100. ^ “「ARIA」3号連続ぷにフィギュア付書籍③アリア社長の絵本” [President ARIA Picture Book] (bằng tiếng Nhật). Mag Garden. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
    101. ^ “ARIA The Best Selection” (bằng tiếng Nhật). Rakuten. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008. 
    102. ^ Amano, Kozue (tháng 1 năm 2008). “Navigation 01: Neo-Venezia”. ARIA volume 1. Tokyopop. ISBN 978-1-4278-0510-2. 
    103. ^ a ă “Production I.G. Announces Mag Garden Merger”. Anime News Network. Ngày 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2009. 
    104. ^ Anderson, Lisa. “ARIA v1 Review”. Manga Life. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008. Khi dọc ARIA nó có cảm giác giống như một cuốn hồi ký cũ của ai đó, nó thuật lại sự kiện cuộc sống - một số lớn, một số nhỏ - với các cảm nhận của cá nhân mà chỉ có niềm vui mới mang đến. 
    105. ^ a ă Santos, Carlos (ngày 20 tháng 1 năm 2008). “ARIA GN 1 - Review”. Anime News Network. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008. ARIA' là tập truyện đầu tiên mà cả 180 trang của nó chứa đầy những niềm vui và sự thanh bình. 
    106. ^ a ă â Carlson, Johanna Draper (ngày 8 tháng 3 năm 2008). “ARIA Book 4”. Comics Worth Reading. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009. Toàn bộ loạt truyện này có tất cả mọi thứ trong nó: Một thế giới bình lặng và những điều tuyệt diệu hấp dẫn của một cuốn sách; sự xuất hiện của nhiều thần thoại trên thế giới; những huyền thoại, hành động, hài hước, phong cách nghệ thuật đáng kinh ngạc. Chỉ có một điều duy nhất khiến tôi tự hỏi là tại sao tên các nhân vật đều bắt đầu bằng chữ A. 
    107. ^ a ă Cha, Kai-Ming (ngày 23 tháng 10 năm 2007). “Aqua Vol. 1 Review”. IGN. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008. Mọi thứ hay thay đổi một cách mượt mà, có thể thấy được nó qua từng chương với các nhịp điệu của cuộc sống, nhưng nó thật tuyệt diệu khi đạt tới biên giới của trí tưởng tượng. 
    108. ^ a ă â Friedman, Erica (ngày 8 tháng 2 năm 2005). “Yuri Manga: ARIA, Volumes 1,2 and 3”. Ozaku. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008. Thứ thật sự khiến ARIA trở nên hấp dẫn là nó khiến cho cảm giác thay đổi qua từng trang... các chương đầy những sự kiện trong cuộc sống mà nó hoàn toàn xứng đáng để đánh đổi những thứ khác để có thể được tận hưởng nó. 
    109. ^ a ă Rasmussen, David (ngày 22 tháng 5 năm 2005). “ARIA GN 2”. Homemademech formerly Anime Boredom. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. Những câu truyện thú vị tràn đầy sự ngây thơ khiến cho người đọc có nhiều cảm xúc khác nhau và những cảm giác này vẫn tồn tại sau khi họ đã đọc xong. Nét vẽ của nó thật tuyệt vời và đôi khi xuất hiện những hình ảnh rộng lớn và quyến rũ của thành phố Neo Venezia tuyệt đẹp (cả trên hay dưới mặt đất). 
    110. ^ Santos, Carlos (ngày 20 tháng 1 năm 2008). “ARIA GN 1 - Review”. Anime News Network. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008. Phong cách này vẫn có thể mô tả lại các quang cảnh tuyệt vời trên hành tinh Aqua: những cánh hoa bay trong không trung khi những chiếc gondola đang di chuyển, những chiếc lá mùa thu rơi lất phất trong chương đầu tiên, và đặc biệt là kiến trúc Nhật Bản bao quanh hòn đảo nơi mà ngôi đền được xây dựng. Cảnh nền và các quang cảnh thật sự là nhân vật chính trong loạt truyện này. 
    111. ^ Beveridge, Chris (ngày 1 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Season 1 Collection”. Mania.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Nếu có gì khiến tôi bực mình trong loạt truyện này thì đó là các tên được dùng. Nó đã chắc chắn được dùng với mục đích gì đó, nhưng trên hành tinh Aqua, chúng ta thường gặp các nhận vật như Akari, Alice, Aika, Akira, Alice, Athena, ARIA và Ai cùng nhiều nhân vật khác. Quá nhiều chữ A và quá nhiều tên nghe giống nhau. 
    112. ^ Badman, Derik (ngày 12 tháng 10 năm 2005). “ARIA by Kozue Amano”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. Nhân vật Akari hơi quá ngọt ngào, một cô gái với đôi mắt to và rụt rè. Cô ta luôn nói về các tâm sự của mình khi học được những điều mới, khi gắp gỡ mọi người, cuộc sống nói chung. Amano cho chúng ta thấy tâm sự của Akari về mọi thứ hơi bị nhiều nhưng lại không trình bày chúng ra để chúng ta có thể tự khám phá nó lâu hơn. 
    113. ^ “Japan's Favorite TV Anime”. Anime News Network. Ngày 13 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
    114. ^ a ă Kimlinger, Carl (ngày 25 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Sub. DVD - Season 1”. Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Không cần bàn cãi khi nói ARIA là bộ anime hấp dẫn nhất mà Satō Jun'ichi từng thực hiện trong suốt sự nghiệp của ông như là đạo diễn của nhiều bộ anime hấp dẫn. Nguồn tư liệu và hình ảnh của nó gần như hoàn hảo. 
    115. ^ Beveridge, Chris (ngày 1 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Season 1 Collection”. Mania.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Nó là một trong những tác phẩm đã thực hiện việc thiết kế những cảm giác và mô tả bầu không khí hoàn toàn khác với các tác phẩm khác. Nó không phải không diễn tả gì cả, mà nó diễn tả cuộc sống của những người phụ nữ và mối quan hệ giữa họ với nhau trong một góc của thiên đàng. 
    116. ^ a ă Høgset, Stig. “ARIA the OAV ~Arietta~”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. Nhưng đồng thời các nhân vật cũng tương tác với sự tĩnh lặng, bầu không khí thanh bình luôn là ân huệ lớn nhất của ARIA, cùng với một cuộc sống lạc quan và không khoe khoang. 
    117. ^ D. F. Smith (ngày 24 tháng 11 năm 2008). “ARIA - Season One DVD Review”. IGN. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Mặc dù ARIA không có bất cứ một xung đột thú vị nào để nói, nhưng nó đáng yêu một cách không cần bàn cãi. Các thiết lập rất đẹp, các thiết kế lấy ý tưởng dựa trên thành phố Venice, và các cô gái cũng rất xinh. 
    118. ^ Høgset, Stig. “ARIA the Origination”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. Một số hình nền trông rất sống động, đặc biệt là khi gần kết thúc. 
    119. ^ Kimlinger, Carl (ngày 25 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Sub. DVD - Season 1”. Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Điểm tinh tế (ARIA là kết tinh của thời đại mới, great Eri Kawai) 
    120. ^ Høgset, Stig. “ARIA the Natural”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. Nghe tốt, nói theo một cách khác, ARIA đơn giản chỉ thật tuyệt vời. 
    121. ^ D. F. Smith (ngày 24 tháng 11 năm 2008). “ARIA - Season One DVD Review”. IGN. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. 
    122. ^ Kimlinger, Carl (ngày 25 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Sub. DVD - Season 1”. Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Tính cách đơn giản ngọt ngào của các nhân vật đã thiêu dệt lên những câu chuyện quanh họ, sự tác động qua lại một cách đầm ấm đã giữa họ tạo nên một tấm gương phản chiếu những sự kiện kỳ diệu trong những việc bình thường nhất theo đúng với cảm hứng về sự bình yên của tác phẩm. 
    123. ^ Beveridge, Chris (ngày 1 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Season 1 Collection”. Mania.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Sự tương tác giữa các cô gái với nhau, cách họ hướng dẫn cũng như cách Prima Undines tương tác vui vẻ với những người khác là trọng tâm. 
    124. ^ Høgset, Stig. “ARIA the Natural”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. Cuối cùng, cách bạn tận hưởng tác phẩm hay bộ đầu tiên này như thế nào là còn tùy thuộc vào việc bạn cảm nhận các nhân vật ra sao vì họ chính là trọng tâm của tác phẩm. 
    125. ^ D. F. Smith (ngày 24 tháng 11 năm 2008). “ARIA - Season One DVD Review”. IGN. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Hầu hết các nhân vật có tính cách không giống người bình thường và lúc nào cũng vui vẻ việc đó khiến tôi tự hỏi không biết họ đã cho gì vào nước ở trên Aqua. 
    126. ^ Kimlinger, Carl (ngày 25 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Sub. DVD - Season 1”. Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Một sự trình diễn ngọt ngào đầy thuyết phục của Hazuki Erino 
    127. ^ Høgset, Stig. “ARIA the Animation”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. Các diễn viên lồng tiếng Nhật Bản thật sự làm công việc rất tốt trong tác phẩm này, đặc biệt là VAs của Akari và Akira. Giọng nói nghiêm khắc và mạnh mẽ của Akira đã mang lại hơi ấm cho nhân vật mà cô đảm nhiệm dù nó rất khó cho việc không đánh mất bất kỳ tính cách nào của nhân vật trong bất cứ tâm trạng nào mà cô đang phải trải qua. Và nhân vật mà Akari đảm nhiệm đôi khi hơi đãng trí mà đa số các nhân vật như thế thường hay gây bực mình, một công việc mà khá khó để hoàn tất. 
    128. ^ Høgset, Stig. “ARIA the Animation”. T.H.E.M. Anime Reviews. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009. 
    129. ^ D. F. Smith (ngày 24 tháng 11 năm 2008). “ARIA - Season One DVD Review”. IGN. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. 
    130. ^ Kimlinger, Carl (ngày 25 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Sub. DVD - Season 1”. Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. 
    131. ^ Beveridge, Chris (ngày 1 tháng 10 năm 2008). “ARIA The Animation Season 1 Collection”. Mania.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. 

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]