Ardabil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ardabil
اردبیل
Artawil
—  City  —
Sheikh Safi Tomb
Baliqli RiverHaft Cheshmeh Bridge
Shah Ismail I StatueShourabil Lake
Shahidgah
Ấn chương chính thức của Ardabil
Ấn chương
Tên hiệu: دارالملک، دارالامان[cần dẫn nguồn]
Ardabil trên bản đồ Iran
Ardabil
Ardabil
Country Iran
Region3
ProvinceArdabil
CountyArdabil
BakhshParliament
Chính quyền
Diện tích
 • City18,011 km2 (6,954 mi2)
Độ cao1.351 m (4,432 ft)
Dân số (2016 thống kê)
 • Mật độ18.857/km2 (48,840/mi2)
 • Đô thị564.374[1]
 • Rank16th in Iran
Tên cư dânArdabili
Múi giờIRST (UTC+3:30)
 • Mùa hè (DST)IRDT (UTC+4:30)
Postal code56131-56491
Mã điện thoại(+98) 45
Thành phố kết nghĩaTiszavasvári sửa dữ liệu
Trang webwww.eardabil.ir ardabil.ostan-ar.ir

Ardabil[2] (Về âm thanh nàyphát âm , tiếng Ba Tư: اردبیل‎, tiếng Azerbaijan: اردبیل, also romanized as Ardabīl and Ardebīl)[3] is an ancient city in northwestern Iran, and the capital of Ardabil Province. Located in the northeastern part of Iran's historic Azerbaijan region,[4][5] at the 2011 census, Ardabil's population was 564,365, in 156,324 families.[6] Phần lớn chiếm ưu thế trong thành phố là dân tộc người Iran gốc Azerbajian và ngôn ngữ chính của người dân là tiếng Azerbajian.

Ardabil được biết đến với việc buôn bán lụathảm. Ardabil thảm là nổi tiếng và Ardabil Thảm cổ đại được coi là một trong những tốt nhất của thảm Ba Tư s. Ardabil cũng là nơi có Di sản thế giới, Ardabil Shrine, khu bảo tồn và lăng mộ của Shaikh Safî ad-Dîn, biệt danh người sáng lập ous của triều đại Safavid.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

anh ấy tên Ardabil xuất phát từ Avesta "Artavila" có nghĩa là thị trấn linh thiêng hoặc thánh địa.[7]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Lạnh và lục địa (Köppen Dsa ), nhiều khách du lịch đến khu vực vì khí hậu mát mẻ trong những tháng mùa hè nóng bức. Mùa đông dài và lạnh buốt, với nhiệt độ thấp kỷ lục −33 & nbsp; °C. Lượng mưa hàng năm là khoảng 380 mm (15 in).

Dữ liệu khí hậu của Ardabil
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 18.2 20.0 27.2 32.0 33.0 37.5 38.0 39.8 37.4 30.8 25.0 21.2 39,8
Trung bình cao °C (°F) 3.0 4.5 9.3 16.7 19.7 23.2 25.0 24.7 22.6 17.5 11.4 5.7 15.28
Trung bình thấp, °C (°F) −7.9 −6.3 −2.4 2.8 6.0 9.0 11.6 11.6 8.7 4.8 0.3 −4.6 2.80
Thấp kỉ lục, °C (°F) −31.4 −33.8 −28.8 −13 −8.5 −0.2 3.0 2.2 −4.4 −21 −24.2 −27 −33,8
Giáng thủy mm (inch) 25.3
(0.996)
24.1
(0.949)
40.1
(1.579)
47.0
(1.85)
42.6
(1.677)
18.9
(0.744)
5.9
(0.232)
5.5
(0.217)
10.4
(0.409)
31.8
(1.252)
34.5
(1.358)
29.4
(1.157)
315,5
(12,421)
độ ẩm 75 74 73 68 71 71 69 70 74 75 74 74 72,3
Số ngày mưa TB 8.2 8.9 11.3 14.2 15.7 7.2 3.9 4.1 6.4 9.2 7.7 7.9 104,7
Số ngày tuyết rơi TB 7.6 7.7 7.1 2.1 0.3 0.0 0.0 0.0 0.0 0.9 3.5 6.3 35,5
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 146.2 153.7 170.4 184.9 245.4 293.6 302.8 274.3 227.1 185.6 153.4 141.0 2.478,4
Nguồn: [8]

Danh lam thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Anthropology
Attraction Description
The complex of Sheikh Safi-ad-din Ardabili World Heritage Site comprising the mausoleums of Sheikh SafiShah Ismail I, Chini khaneh (meaning the house of chinaware), a mosque, Jannat Sara (meaning the house of paradise), Khanaqah (the house of Dervishes), Cheragh Khaneh (the house of lamps), Shahid khaneh (the house of martyrs) and Chelleh Khaneh (the place where devotees shut themselves up during the 40 days of Lent). The mausoleum of Sheikh Safi, the dome of which is called "Allah-Allah" has an octagonal interior.(Virtual tour)
Masjid Jameh Ruins of once magnificent and unique mosque
Mirza Ali Akbar mosque and school This complex dates back to Qajar period
Ardabil Bazaar This Persian bazaar was built during Safavid period and in addition to main bazaar hall with open vaults has a hammam and a small yet mystifying mosque.
Ardabil bridges Ardabil host numerous historical bridges namely Pol-e Gilandeh, Pol-e Nayer, Pol-e Haft Cheshmeh, Pol-e Panj Cheshmeh and Pol-e She Cheshmeh and Qarah Soo Bridge, most were built during Safavid era.
Ardabil bridges Ardabil host numerous historical bridges namely Pol-e Gilandeh, Pol-e Nayer, Pol-e Haft Cheshmeh, Pol-e Panj Cheshmeh and Pol-e She Cheshmeh and Qarah Soo Bridge, most were built during Safavid era.
Imamzadeh Saleh mausoleum The mausoleum of Imamzadeh Saleh who is a descendant of a Shia Imam was built 250 years ago.
Saint Mary church This Armenian orthodox Nhà thờ có một cửa chính bằng gỗ tuyệt đẹp và mái vòm sơn được xây dựng vào năm 1876.
mausoleum of Sheikh Jebra'il located 2 km north of Ardabil
chợ cũ nhưng luôn sống động
babadavood anbaran Friday mosque

Ngoài những thứ này, tại nhiều ngôi làng của Ardabil, các di tích của các di tích cổ, bao gồm các ngôi mộ đã được tìm thấy.

Là một thành phố cổ xưa, nguồn gốc của Ardabil quay trở lại 4.000 đến 6.000 năm (theo nghiên cứu lịch sử tại thành phố này). Thành phố này là thủ phủ của tỉnh Azerbaijan vào những thời điểm khác nhau, nhưng thời kỳ hoàng kim của nó là vào thời Safavid.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ https://www.amar.org.ir/english
  2. ^ M. Medley (11 tháng 8 năm 2011). “ARDABĪL”. Encyclopædia Iranica. Truy cập 27 Tháng 6 năm 2016. 
  3. ^ Bản mẫu:GEOnet3
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên iranicaonline1986
  5. ^ “AZERBAIJAN”. Encyclopaedia Iranica, Vol. III, Fasc. 2-3. 1987. tr. 205–257. 
  6. ^ Bản mẫu:IranCensus2006
  7. ^ “Iranian Provinces: Ardabil”. iranchamber.com. 
  8. ^ “آمار 166 ايستگاه سينوپتيك كشور تا پایان سال 2010 میلادی + 37 ایستگاه تا پایان سال 2005”. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2016.