Axit propionic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Axit prôpionic)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Axit propionic
Cấu trúc phân tử của axit propionic
Cấu trúc phân tử của axit propionic
Tổng quan
Danh pháp IUPAC Axit propanoic
Tên khác Axit êtancacboxylic
Công thức phân tử C3H6O2
Phân tử gam 74,08 g/mol
Biểu hiện Chất lỏng không màu
Số CAS [79-09-4]
Thuộc tính
Tỷ trọngpha 0,99 g/cm3, lỏng
Độ hòa tan trong nước Có thể trộn lẫn
Điểm nóng chảy -21 °C (252 K)
Điểm sôi 141 °C (414 K)
pKa {{{Hằng số điện ly axít}}}
pKb
Độ nhớt 10 mPa.s
Nguy hiểm
MSDS MSDS ngoài
Các nguy hiểm chính Chất ăn mòn (C)
NFPA 704 Nfpa h3.pngNfpa f2.pngNfpa r0.png
Điểm bắt lửa 54°C
Rủi ro/An toàn R: 34
S: 1/2, 23, 36, 45
Số RTECS UE5950000
Trang dữ liệu bổ sung
Cấu trúc & thuộc tính n εr, v.v.
Dữ liệu nhiệt động lực Các trạng thái
rắn, lỏng, khí
Dữ liệu quang phổ UV, IR, NMR, MS
Các hợp chất liên quan
Các hợp chất tương tự Axit axetic
Axit butyric
Các hợp chất liên quan Propionat natri
1-Propanol
Propionalđêhit
Metyl propionat
Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu
được lấy ở 25°C, 100 kPa
Thông tin về sự phủ nhận và tham chiếu

Axit propionic (danh pháp khoa học axit propanoic) là một axit cacboxylic có nguồn gốc tự nhiên với công thức hóa học CH3CH2COOH. Ở trạng thái tinh khiết và trong điều kiện thông thường, nó là một chất lỏng không màu có tính ăn mòn và mùi hăng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Axit propionic lần đầu tiên được Johann Gottlieb miêu tả năm 1844. Ông là người đã tìm thấy nó trong số các sản phẩm phân hủy của đường. Trong khoảng thời gian vài năm sau đó, các nhà hóa học khác cũng tạo ra axit propionic theo các cách khác nhau, nhưng không có ai trong số họ nhận ra rằng họ đã tạo ra cùng một hợp chất. Năm 1847, nhà hóa học người Pháp là Jean-Baptiste Dumas đã chứng minh được tất cả các axit trên đây chỉ là một hợp chất và ông gọi nó là axit propionic, lấy theo tiếng Hy Lạp protos = "đầu tiên" và pion = "béo", do nó là axit với công thức tổng quát H(CH2)nCOOH nhỏ nhất có các tính chất của một axit béo, chẳng hạn như sự tạo ra một lớp váng mỡ khi bị kết tủa bởi muối và có muối với kali có tính chất giống xà phòng.

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Axit propionic có các tính chất vật lý trung gian giữa các tính chất của các axit cacboxylic nhỏ hơn như axit fomicaxit axetic, với các axit béo lớn hơn. Nó hòa tan trong nước nhưng có thể bị loại ra khỏi nước bằng cách cho thêm muối. Giống như axit axetic và axit fomic, dạng khí của nó vi phạm nghiêm trọng định luật khí lý tưởng do nó không chứa các phân tử axit propionic riêng rẽ mà lại có các cặp liên kết hydro giữa các phân tử. Nó cũng có sự bắt cặp này khi ở trạng thái lỏng.

Về mặt hóa học, axit propionic thể hiện các tính chất chung của axit cacboxylic, và tương tự như phần lớn các axit cacboxylic khác, nó tạo ra các hợp chất amit, este, anhydritclorua. Nó cũng có thể tham gia phản ứng halogen hóa pha alpha với brom khi có mặt PBr3 làm chất xúc tác (phản ứng HVZ) để tạo ra CH3CHBrCOOH.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong công nghiệp, axit propionic thông thường được sản xuất từ phản ứng oxy hóa của propionaldehit bằng không khí. Khi có mặt các xúc tác như coban, mangan sắt, phản ứng này diễn ra nhanh chóng thậm chí ở nhiệt độ vừa phải. Thông thường sản xuất công nghiệp được thực hiện ở 40-50 °C, được viết dưới phương trình hóa học sau:

CH3CH2CHO + ½ O2 → CH3CH2COOH

Một lượng lớn axit propionic đã từng được sản xuất như là phụ phẩm của việc sản xuất axit axêtic, nhưng ngày nay thì nó chỉ là một nguồn rất nhỏ trong sản xuất axit propionic. Nhà sản xuất nay là BASF, với công suất khoảng 80 ktpa.

Axit propionic cũng được tạo ra theo phương pháp sinh học từ sự phân hủy do trao đổi chất của các axit béo chứa số lẻ các nguyên tử cacbon, cũng như từ sự phân hủy của một số axit amin. Các vi khuẩn thuộc chi Propionibacterium cũng tạo ra axit propionic như là sản phẩm cuối cùng trong hoạt động trao đổi chất kỵ khí của chúng. Các vi khuẩn này ađược tìm thấy rất phổ biến trong dạ dày của các động vật nhai lại, và hoạt động của chúng là một phần nguyên nhân tạo ra mùi vị của cả phó mát Thụy Sĩmồ hôi.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Axit propionic ngăn cản sự phát triển của mốc và một số vi khuẩn. Do vậy, phần lớn axit propionic được sản xuất để sử dụng làm chất bảo quản cho cả thực phẩm dành cho con người cũng như thức ăn dành cho gia súc. Đối với thức ăn cho gia súc, nó được sử dụng hoặc là trực tiếp hoặc dưới dạng muối amoni. Đối với thực phẩm dành cho con người, đặc biệt là bánh mì và các sản phẩm nướng khác, nó được dùng dưới dạng các muối natri hay canxi. Việc sử dụng tương tự cũng diễn ra đối với một số bột chống nấm chân loại cũ.

Axit propionic cũng là một hóa chất trung gian có ích. Nó có thể sử dụng để thay đổi các sợi cellulose tổng hợp. Nó cũng được dùng để sản xuất một số thuốc trừ sâudược phẩm. Các este của axit propionic đôi khi được dùng làm dung môi hay các chất tạo mùi nhân tạo.

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Nguy hiểm chính từ axit propionic là bỏng hóa chất có thể sinh ra do tiếp xúc với axit đậm đặc. Trong các nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm, hiệu ứng nguy hiểm nghiêm trọng duy nhất gắn liền với phơi nhiễm kinh niên đối với một lượng nhỏ axit propionic là các vết loét thực quảndạ dày do tiêu thụ chất có tính ăn mòn này. Người ta chưa quan sát thấy các hiệu ứng độc hại, dị biến gen, ung thư hay sinh sản nào. Trong cơ thể, axit propionic bị oxy hóa nhanh chóng và bị thải ra khỏi cơ thể trong dạng cacbon dioxit theo chu trình Krebs và nó không tạo ra sự tích lũy sinh học.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]