Bọ rùa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bọ rùa
Ladybird.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Hexapoda
Lớp (class) Insecta
Phân lớp (subclass) Pterygota
Phân thứ lớp (infraclass) Neoptera
Liên bộ (superordo) Endopterygota
Bộ (ordo) Coleoptera
Phân bộ (subordo) Polyphaga
Phân thứ bộ (infraordo) Cucujiformia
Liên họ (superfamilia) Cucujoidea
Họ (familia) Coccinellidae
Latreille, 1807
Các phân họ

Bọ rùa (Coccinellidae) là tên gọi chung cho các loài côn trùng nhỏ, mình tròn hình cái trống, phủ giáp trụ, trên mặt cánh có những chấm đen (có loài không có). Người ta phân loại bọ rùa tùy theo số chấm và hình thái cơ thể.

Loài bọ rùa thường thấy nhất là bọ rùa 7 sao. Trên bộ cánh vỏ vàng cam có 7 nốt đen (mỗi cánh có ba nốt, còn một nốt ở chỗ giáp lại giữ hai cánh). Đây là loài bọ rùa to nhất và là một thợ săn đáng khâm phục.

Bọ rùa, hay còn gọi là bọ hoàng hậu, ăn được nhiều thứ, thức ăn chính của chúng là các loài rệp vừng (Aphid) là một trong những loài côn trùng phá hoại nhiều nhất đối với cây trồng ở các vùng ôn đới[1]. Rệp vừng có rất nhiều trên cây cối. Một con bọ rùa một ngày trung bình có thể ăn được đến hơn 100 con rệp vừng.

Bọ rùa sống ở vùng ôn đới, đặc biệt là châu Âu. Vào mùa xuân, rệp vừng từ trứng nở ra, bọ rùa cũng "thức giấc" sau kì trú đông, vì thế chúng có đủ lượng thức ăn dồi dào. Vì chúng phổ biến ở châu Âu, là sinh vật hữu ích, lại có vẻ ngoài đặc biệt, nên hình ảnh bọ rùa xuất hiện rất nhiều trong các chương trình giáo dục và giải trí, đặc biệt là truyền hìnhinternet. Hình ảnh bọ rùa dễ tìm, dễ vẽ nên một số nước ở vùng nhiệt đới tuy chẳng có bọ rùa cũng vẫn cứ copy và paste bọ rùa vào chương trình giáo dục trẻ mầm non.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Bọ rùa cái đẻ trứng ở mặt sau lá cây. Trứng hình bầu dục màu vàng, dài khoảng 1 đến 1,5 mm và bám chặt ở mặt ngoài lá cây. Một bọ rùa đẻ 10-20 trứng một lần, một đời có thể đẻ đến mấy ngàn trứng.

Sinh trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trứng sau 1-2 tuần sẽ nở ra ấu trùng. Vừa nở, ấu trùng đã ngay vỏ trứng và các trứng khác không nở được. Sau đó, nó đi tìm các con rệp vừng để ăn. Ấu trùng này mình đầy lông lá, một ngày ăn khoảng 10 con rệp, càng lớn nó càng ăn nhiều. Qua ba lần lột xác và hoá nhộng, trong khoảng 1-2 tháng là thành trùng. Trong thời gian này, tối thiểu nó ăn tới hơn 1000 con rệp.

Đa dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thế giới có đến 5.000 loài bọ rùa đã được miêu tả[2]. Bọ rùa nói chung là những động vật ăn thịt đối với các côn trùng thuộc bộ Hemiptera, như rệp và các côn trùng có vảy, mặc dù các thành viên của phân họ Epilachninae là động vật ăn cỏ, và chúng cũng có thể là dịch hại trong nông nghiệp (ví dụ bọ đậu Mexico). Chúng cũng ăn một số loại cây trồng và thực vật khác khi không có các loại thức ăn khác, làm cho chúng có thể trở thành dịch hại đối với nông dân và những người làm vườn.

Rệp vừng (Aphid), thức ăn của bọ rùa

Bọ rùa - loài vật có ích[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta sử dụng bọ rùa làm thiên địch để phòng trị côn trùng có hại rất có hiệu quả.

Nếu phát hiện rệp vừng trên cây thì nên lên vùng ôn đới tìm vài con bọ rùa (1 con cũng được, tốt nhất là những con trú đông vừa thức dậy) đem về rồi đặt lên. Một lúc sau, bọ rùa sẽ đánh chén sạch sẽ lũ rệp vừng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ George C. McGavin (1993). Bugs of the World. Infobase Publishing. ISBN 0816027374.
  2. ^ Judy Allen & Tudor Humphries (2000). Are You A Ladybug?, Kingfisher, trang 30

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hãy trả lời em tại sao?, Nhà xuất bản Trẻ

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]