Cô gái văn chương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Cô gái văn chương
Co gai van chuong.jpeg
Bìa tập 1 phiên bản tiếng Việt mang tựa đề Cô gái văn chương và Tên hề thích chết
文学少女
(Bungaku Shōjo)
Thể loại Drama, Huyền bí, Lãng mạn
Tiểu thuyết
Tác giả Nomura Mizuki
Minh họa Takeoka Miho
Nhà xuất bản Enterbrain
Nhà xuất bản tiếng Việt Thái Hà Books
Ấn hiệu Famitsu Bunko
Manga
Cô gái văn chương và Tên hề thích chết
Tác giả Nomura Mizuki
Minh họa Kōsaka Rito
Nhà xuất bản Square Enix
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Gangan Powered
Gangan Joker
Phát hành Tháng 8, 2008Tháng 11, 2010
Số tập 3
Manga
Cô gái văn chương và Công thức nấu ăn ngon
Tác giả Nomura Mizuki
Minh họa Hiyoshimaru Akira
Nhà xuất bản Kadokawa Shoten
Đối tượng Shōjo
Tạp chí Beans Ace
Nguyệt san Asuka
Phát hành 11 tháng 11 năm 2008Tháng 4, 2010
Số tập 2
OVA
"Bungaku Shoujo" Kyou no Oyatsu: Hatsukoi
Đạo diễn Tada Shunsuke
Hãng phim Production I.G
Phát hành 26 tháng 12 năm 2009
Manga
Bungaku Shōjo to Koisuru Poet
Tác giả Nomura Mizuki
Minh họa Hiyoshimaru Akira
Nhà xuất bản Kadokawa Shoten
Đối tượng Shōjo
Tạp chí Nguyệt san Asuka
Phát hành Tháng 6, 2010Tháng 1, 2011
Số tập 1
OVA
Book Girl Memoir
Đạo diễn Shunsuke Tada
Hãng phim Production I.G
Phát hành ngày 25 tháng 6 năm 2010 ngày 24 tháng 12 năm 2010
Số tập 3 (danh sách tập)
Manga
Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát
Tác giả Nomura Mizuki
Minh họa Kōsaka Rito
Nhà xuất bản Square Enix
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Gangan Joker
Phát hành Tháng 11, 2011Tháng 9, 2013
Số tập 4
Gekijōban Bungaku Shōjo

Chủ đề Anime và manga

Cô gái văn chương (文学少女 Bungaku Shōjo?)light novel nhiều tập của nữ tác giả Nomura Mizuki, được minh họa bởi Takeoka Miho. Sê-ri tiểu thuyết này bao gồm 16 tập: 8 tập trong sê-ri chính, 4 tuyển tập các truyện ngắn, và 4 tập ngoại truyện. Tiểu thuyết được xuất bản từ tháng 4 năm 2006 đến tháng 4 năm 2011 tại Nhật Bản bởi Enterbrain dưới tên nhà xuất bản Famitsu Bunko. Yen Press mua bản quyền của loạt tiểu thuyết này và bắt đầu xuất bản phiên bản tiếng Anh tại Bắc Mỹ từ tháng 7 năm 2010.[1][2] Thái Hà Books mua bản quyền và ra mắt phiên bản tiếng Việt dưới tên "Cô gái văn chương" từ tháng 3 năm 2014.[3]

4 tập manga được chuyển thể và xuất bản trong tạp chí truyện shōnen Gangan PoweredGangan Joker của Square Enix, và tạp chí truyện shōjo Beans AceNguyệt san Asuka của Kadokawa Shoten. Một tập phim anime được chuyển thể bởi Production I.G ra mắt tại các rạp phim Nhật Bản vào ngày 1 tháng 5 năm 2010.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết Cô gái văn chương xoay quanh nam sinh tên Inoue Konoha. Câu chuyện bắt đầu với lần đầu tiên cậu gặp một nữ sinh năm 3 tên Amano Tooko - chủ tịch câu lạc bộ Văn học. Tooko là một người rất yêu thích văn học và là Quái vật ăn sách. Tooko có thể ăn những câu chuyện bằng các ăn những cuốn sách. Sau đó, Konoha tham gia câu lạc bộ Văn học và hàng ngày viết truyện "tam đề" để làm món "điểm tâm" cho Tooko. Mỗi cuốn là một câu chuyện riêng biệt, nhưng tuyến nhân vật chính vẫn xuyên suốt cả bộ sách, và mỗi tập đều đan xen trong âm hưởng của một tác phẩm văn học nổi tiếng.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Inoue Konoha (井上 心葉?)
Lồng tiếng bởi: Irino Miyu
Trong loạt sê-ri chính, Konoha là nam sinh năm 2 cao trung. Sau một lần tham gia cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, tác phẩm của cậu thắng giải và nó trở nên rất nổi tiếng và trở thành tiểu thuyết bán chạy nhất. Nhưng vì cậu sử dụng bút danh là tên thiếu nữ nên không một ai biết đến tác giả thực sự là ai. Cậu tham gia câu lạc bộ Văn học và vướng vào những chuyện rắc rối cùng chủ tịch câu lạc bộ là Amano Tooko.
Trong ngoại truyền "Tình đầu của cô gái văn chương Tập sự", Konoha là nam sinh năm 3 cao trung và trở thành chủ tịch câu lạc bộ Văn học thay thế cho vị trí của Tooko sau khi cô tốt nghiệp.
Amano Tooko (天野 遠子?)
Lồng tiếng bởi: Hanazawa Kana
Tooko là nữ sinh năm 3 cao trung và là chủ tịch câu lạc bộ Văn học. Cô và Konoha là hai thành viên duy nhất của câu lạc bộ. Cô là "Quái vật ăn sách" khi cô có thể ăn giấy và cảm nhận được hương vị của các câu chuyện từ những trang sách. Dù cô có thể ăn thức ăn như người bình thường, song cô không cảm nhận được hương vị của chúng. Trong những buổi hoạt động câu lạc bộ, cô yêu cầu Konoha viết những truyện "tam đề" dựa trên 3 từ ngẫu nhiên để làm món "điểm tâm".

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Sê-ri light novel Cô gái văn chương (文学少女 Bungaku Shōjo?) được viết bởi Nomura Mizuki và minh họa bởi Takeoka Miho. Sê-ri tiểu thuyết này bao gồm 16 tập: 8 tập trong sê-ri chính, 4 tuyển tập các truyện ngắn, và 4 tập ngoại truyện. 8 tập trong sê-ri chính được xuất bản từ ngày 28 tháng 4 năm 2006 đến ngày 30 tháng 8 năm 2008. 4 tuyển tập truyện ngắn được phát hành từ ngày 26 tháng 12 năm 2008 đến ngày 25 tháng 12 năm 2010; có rất nhiều truyện ngắn trước được xuất bản trên tạp chí online FB Online của nhà xuất bản Enterbrain. 4 tập ngoại truyện được xuất bản từ ngày 30 tháng 4 năm 2009 đến ngày 30 tháng 4 năm 2011. 3 tập đầu và 1 tập cuối của loạt ngoại truyện là 2 câu chuyện riêng biệt.

Các loại sách khác[sửa | sửa mã nguồn]

127 trang artbook Bungaku Shōjo no Tsuisō Garō (Galerie d'art) ("文学少女"の追想画廊(ガレリア・デ・アール)?) được xuất bản vào ngày 15 tháng 12 năm 2008 bởi Enterbrain. Bên cạnh những tranh minh họa, sách còn bao gồm một truyện ngắn Cô gái văn chương và lời bình luận của những người xuất bản sách. Ba cuốn sách khác được xuất bản vào ngày 21 tháng 4 năm 2010 bởi Enterbrain, bao gồm 63 trang artbook Bungaku Shoujo Fantasy Art Book; 159 trang sách hướng dẫn Bungaku Shōjo no Gourmet na Tosho Guide ("文学少女"のグルメな図書ガイド?) và 111 trang sách hướng dẫn Gekijōban Bungaku Shōjo -appetizer- (劇場版"文学少女" -appetizer-?) ra mắt trong lần công chiếu phim. Sách hướng dẫn kèm thêm một đĩa DVD bao gồm lời bình luận của dàn diễn viên lồng tiếng và quá trình làm phim. Một cuốn artbook khác mang tên Bungaku Shōjo no Tsuisō Garō 2 (Galerie d'art) (“文学少女”の追想画廊2?) được phát hành vào ngày 30 tháng 5 năm 2011 bởi Enterbrain. Nomura hợp tác với Inoe Kenji (tác giả của light novel Baka to Test to Shōkanjū) và Kaima Takaaki (tác giả của light novel Gakkō no Kaidan) viết 3 tập truyện kết hợp Corabo Ansorojī 2 Bungaku Shōjo wa Gāgoiru to Baka no Kaidan o Noboru (コラボアンソロジー2 "文学少女"はガーゴイルとバカの階段を昇る?) và được xuất bản bởi Enterbrain vào ngày 30 tháng 10 năm 2008.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

4 loạt truyện manga Cô gái văn chương được chuyển thể. Loạt truyện manga đầu tiên mang tên Cô gái văn chương và Tên hề thích chết ("文学少女"と死にたがりの道化 Bungaku Shōjo to Shinitagari no Piero?) được vẽ bởi Kōsaka Rito và bắt đầu được xuất bản từ tháng 8 năm 2008 trên tạp chí truyện shōnen Gangan Powered của Square Enix. Loạt truyện được chuyển sang xuất bản ở số báo tháng 5 năm 2009 trên tạp chí Ganger Joker của Square Enix sau khi tạp chí Gangan Powered ngừng xuất bản ở số báo tháng 4 năm 2009. Loạt truyện được xuất bản tới số báo tháng 11 năm 2010. Ba tập tankōbon được xuất bản từ ngày 24 tháng 4 năm 2009 đến ngày 22 tháng 12 năm 2010 bởi nhà xuất bản Gangan Comics Joker của Square Enix.[4][5].

Kōsaka bắt đầu loạt manga thứ 2 với nhan đề Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát ("文学少女"と飢え渇く幽霊 Bungaku Shōjo to Uekawaku Gōsuto?) được xuất bản theo chương trên các số báo của tạp chí Gangan Joker từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013. 4 tập của Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát được xuất bản thành tập từ ngày 22 tháng 8 năm 2011 đến ngày 22 tháng 11 năm 2013.[6]

Loạt manga thứ 3, Bungaku Shōjo to Oishii Reshipi ("文学少女"と美味しい噺?), được minh họa bởi Hiyoshimaru Akira và 4 chương đầu tiên được xuất bản trên tạp chí truyện shōjo Beans Ace của nhà xuất bản Kadokawa Shoten. Loạt truyện được chuyển qua xuất bản trên tạp chí Nguyệt san Asuka sau khi tạp chí Beans Ace ngừng xuất bản ở số báo tháng 11 năm 2009. Bungaku Shōjo to Oishii Reshipi được xuất bản theo chương trên số báo tháng 9 năm 2009 đến số báo tháng 4 năm 2010 của tạp chí Nguyệt san Asuka. Loạt manga này được xuất bản thành 2 tập từ ngày 26 tháng 1 năm 2010 đến ngày 26 tháng 4 năm 2010 bởi nhà xuất bản Asuka Comics DX của Kadokawa.[7][8]

Hiyoshimaru tiếp tục vẽ loạt truyện thứ 4 với nhan đề Bungaku Shōjo to Koisuru Poet ("文学少女"と恋する詩人?) trên các số báo từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 1 năm 2011 của tạp chí Nguyệt san Asuka. Loạt manga này được xuất bản thành 1 tập vào ngày 26 tháng 1 năm 2011.[9]

Drama CD và chương trình radio[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ gồm 6 đĩa drama CD được sản xuất bởi Lantis. Mỗi hai đĩa chuyển thể nội dung của 1 tập light novel. Hai đĩa chuyển thể light novel tập 1 Cô gái văn chương và Tên hề thích chết ra mắt vào ngày 21 tháng 10 và ngày 25 tháng 11 năm 2009.[10][11] Hai đĩa chuyển thể light novel tập 2 Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát ra mắt vào ngày 24 tháng 2 và ngày 24 tháng 3 năm 2010.[12][13] Hai đĩa tiếp theo chuyển thể light novel tập 3 Cô gái văn chương và gã khờ bị trói buộc ra mắt vào ngày 22 tháng 9 và ngày 24 tháng 11 năm 2010.[14][15]

Một chương trình radio trên internet Rajio Bungaku Shōjo: Mayonaka no Bungeibu (ラジオ"文学少女"〜真夜中の文芸部〜 tạm dịch: Radio Cô gái văn chương và CLB Văn học vào lúc nửa đêm?) quảng cáo cho Cô gái văn chương phát sóng 52 tập từ ngày 9 tháng 1 năm 2010 đến ngày 1 tháng 1 năm 2011. Chương trình được sản xuất bởi Chō! A&G+ và Lantis Web Radio. Chương trình được phát sóng trực tuyến hàng tuần và được dẫn bởi Hanazawa Kana, người lồng tiếng cho Amano Tooko trong drama CD và bản chuyển thể anime.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một tập phim anime 103 phút được chuyển thể với nhan đề Cô gái văn chương được sản xuất bởi Production I.G, do Tada Shunsuke làm đạo diễn, và công chiếu tại các rạp phim Nhật Bản vào ngày 1 tháng 5 năm 2010.[16][17] Bộ phim được sản xuất nhân kỉ niệm 10 năm thành lập Enterbrain. Bộ phim được phát hành thành đĩa Blu-ray/DVD vào ngày 27 tháng 8 năm 2010 bởi Pony Canyon.[18]

Một tập OVA với tựa đề Điểm tâm hôm nay của Cô gái văn chương: Tình đầu ("文学少女"今日のおやつ 〜はつ恋〜 Bungaku Shōjo Kyō no Oyatsu: Hatsukoi?) được bán kèm với tập 2 ngoại truyện phiên bản giới hạn Bungaku Shōjo Minarai no, Shōshin ("文学少女"見習いの、傷心?) vào ngày 26 tháng 12 năm 2009.[19] Tập OVA được sản xuất bởi đoàn làm phim anime.

Ba tập OVA với tựa đề Bungaku Shōjo Memowāru ("文学少女"メモワール?) được sản xuất để phát sóng trước buổi ra mắt phim điện ảnh 1 tuần, bắt đầu chiếu vào tháng 5 năm 2010. Ảnh bìa của OVA minh họa 3 nữ nhân vật chính xuyên suốt câu chuyện: Amano Tooko cho đĩa tập 1, Miu Asakura cho đĩa tập 2, và Nanase Kotobuki cho đĩa tập 3. Tập OVA của Tooko, Yumemiru Shōjo no Prelude (夢見る少女の前奏曲(プレリュード)?), được phát sóng từ ngày 15 tháng 5 đến ngày 21 tháng 5 năm 2010; đĩa DVD của tập OVA này được bán vào ngày 25 tháng 6 năm 2010.[20] Tập OVA của Miu, với tựa đề Sora Mau Tenshi no Requiem (ソラ舞う天使の鎮魂曲(レクイエム)?), được phát sóng từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 5 năm 2010; đĩa DVD của tập OVA này được bán vào ngày 29 tháng 10 năm 2010.[21] Tập OVA của Nanase, với tựa đề Koisuru Otome no Rhapsody (恋する乙女の狂想曲(ラプソディ)?), được phát sóng từ ngày 29 tháng 5 đến ngày 4 tháng 6 năm 2010; đĩa DVD của tập OVA này được bán vào ngày 24 tháng 12 năm 2010.[22]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album ca khúc chủ đề mang tựa đề Bungaku Shōjo to Yumeutsutsu no Melody ("文学少女"と夢現の旋律?) phát hành tại Comiket 76 vào ngày 14 tháng 8 năm 2009 với những ca khúc được thể hiện bởi Annabel, CooRie, Eufonius, Itō Masumi, Kokia, và Kukui.[23] Ca khúc chủ đề trong phim điện ảnh mang tựa đề "Haruka na Hibi" (遥かな日々 Những ngày xa xăm?) được thể hiện bởi Eufonius; đĩa đơn được phát hành vào ngày 1 tháng 5 năm 2010.[24] Nhạc phim với tựa đề Musique du film, sáng tác bởi Itō Masumi, phát hành bởi Lantis vào ngày 1 tháng 5 năm 2010.[25] Ca khúc chủ đề mở đầu cho 3 tập OVA ngắn mang tựa đề "Musō Garden" (夢想庭園 Musō Gāden?, Khu vườn giấc mơ) thể hiện bởi CooRie; đĩa đơn phát hành vào ngày 7 tháng 7 năm 2010.[26] Ca khúc chủ đề kết thúc của OVA "Bungaku Shōjo Memowāru I -Yumemiru Shōjo no Pureryūdo-" với tựa đề "Koto no Ha" (言の葉 Ngôn từ?) thể hiện bởi Kokia; ca khúc được phát hành trong album Yumemiru Shōjo no Prelude vào ngày 7 tháng 7 năm 2010.[27] Ca khúc chủ đề kết thúc của OVA The "Bungaku Shōjo Memowāru II -Sora Mau Tenshi no Rekuiem-" với tựa đề "Aozora no Mukō" (青空の向こう?) thể hiện bởi Itō Masumi; ca khúc được phát hành trong album Sora Mau Tenshi no Requiem vào ngày 27 tháng 10 năm 2010.[28] Ca khúc chủ đề kết thúc của OVA "Bungaku Shōjo Memowāru III -Koisuru Otome no Rapusodi-" với tựa đề "Hidamari Hakusho" (陽だまり白書?) thể hiện bởi CooRie; ca khúc được phát hành trong album Koisuru Otome no Rhapsody vào ngày 26 tháng 1 năm 2011.[29]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Báo Mainichi Shimbun thông báo rằng, cho đến tháng 5 năm 2010. đã có 1.6 triệu bản light novel được bán ra tại Nhật Bản.[30] Loạt tiểu thuyết được đưa vào xếp hạng 5 lần trong sách hướng dẫn Kono Light Novel ga Sugoi! bởi Takarajimasha được xuất bản hàng năm: xếp hạng thứ 8 vào năm 2007[31], xếp hạng thứ 3 vào năm 2008 và 2010,[32][33] xếp hạng nhất vào năm 2009,[34] và xếp hạng thứ 6 vào năm 2011.[35] Trong sách hướng dẫn năm 2009, Amano Tooko được bình chọn ở hạng mục nhân vật nữ trong light novel được yêu thích nhất.[34] Tại giải thưởng Light Novel Award của Kadokawa Shoten tổ chức năm 2007, Cô gái văn chương và Tên hề thích chết đoạt giải tại hạng mục truyện kì bí.[36]

Trong bài đánh giá tập 1 light novel Cô gái văn chương và Tên hề thích chết của Anime News Network, Carlo Santos viết rằng: tác giả Nomura Mizuki cảm thấy "rất hi vọng" vào lối kể chuyện sử dụng nhiều thể loại, bao gồm: huyền bí, hài hước dẫn dắt nhân vật, văn học Nhật Bản vào thế kỉ 20.[37] Santos làm bài so sánh với loạt tiểu thuyết Suzumiya Haruhi về sự giống nhau giữa các nhân vật Kyon và Suzumiya Haruhi với Inoue Konoha và Amano Tooko trong loạt tiểu thuyết Cô gái văn chương. Santos còn nhận xét thêm rằng, lối kể chuyện hài hước để dẫn dắt nhân vật giống với lối viết được sử dụng trong loạt tiểu thuyết Suzumiya Haruhi.[37]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Yen Press Adds Haruhi-Chan, K-On! Manga, Bungaku Shoujo. Anime News Network. Ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  2. ^ “Book Girl (novel) by Mizuki Nomura”. Yen Press. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ “Cô gái văn chương và tên hề thích chết”. 
  4. ^ "文学少女"と死にたがりの道化 1巻” [Cô gái văn chương và Tên hề thích chết tập 1] (bằng tiếng Nhật). Square Enix. 
  5. ^ "文学少女"と死にたがりの道化 3巻 (完) [Cô gái văn chương và Tên hề thích chết tập 3 (tập cuối)] (bằng tiếng Nhật). Square Enix. 
  6. ^ "文学少女"と飢え渇く幽霊 1巻 [Cô gái văn chương và Tên hề thích chết tập 1] (bằng tiếng Nhật). Square Enix. Truy cập 10 tháng 4 năm 2017. 
  7. ^ "文学少女"と美味しい噺(レシピ) 第1巻 [Bungaku Shōjo to Oishii Reshipi tập 1] (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. 
  8. ^ "文学少女"と美味しい噺(レシピ) 第2巻 [Bungaku Shōjo to Oishii Reshipi tập 2] (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. 
  9. ^ "文学少女"と恋する詩人(ポエット) (bằng tiếng Nhật). Kadokawa Shoten. 
  10. ^ "文学少女"と死にたがりの道化 前篇 [Cô gái văn chương và Tên hề thích chết tập 1] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. 
  11. ^ "文学少女"と死にたがりの道化 後篇 [Cô gái văn chương và Tên hề thích chết tập 2] (bằng tiếng Japanese). Lantis. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  12. ^ "文学少女"と飢え渇く幽霊 ドラマCD 前篇” [Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát Drama CD Tập 1] (bằng tiếng Nhật). Lantis. 
  13. ^ "文学少女"と飢え渇く幽霊 後篇 [Cô gái văn chương và Hồn ma đói khát Tập 2] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  14. ^ "文学少女"と繋がれた愚者(フール)ドラマCD 前篇” [Cô gái văn chương và gã khờ bị trói buộc Drama CD Tập 1] (bằng tiếng Nhật). Lantis. 
  15. ^ "文学少女"と繋がれた愚者(フール)ドラマCD 後篇” [Cô gái văn chương và gã khờ bị trói buộc Drama CD Tập 2] (bằng tiếng Nhật). Lantis. 
  16. ^ “Công bố phim anime chiếu rạp Cô gái văn chương (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  17. ^ “Quảng cáo giới thiệu Cô gái văn chương, Haiyoru! Nyaru-Ani (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ “Blu-ray & DVD 劇場版文学少女” [Blu-ray & DVD Cô gái văn chương] (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. 
  19. ^ “DVD付特装版"文学少女"見習いの、傷心。” (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  20. ^ “DVD 『"文学少女"メモワールI -夢見る少女の前奏曲(プレリュード)-』 天野遠子編” (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017. 
  21. ^ “DVD 『"文学少女"メモワールII -ソラ舞う天使の鎮魂曲(レクイエム)-』 朝倉美羽編” (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017. 
  22. ^ “DVD 『"文学少女"メモワールIII -恋する乙女の狂想曲(ラプソディ)-』 琴吹ななせ編” (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017. 
  23. ^ コミックマーケット76 [Comic Market 76] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017. 
  24. ^ 遥かな日々 [Haruka na Hibi] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  25. ^ “オリジナルサウンドトラック 〜追想音楽 Musique du film〜” (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  26. ^ 夢想庭園 [Musō Teien] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  27. ^ 夢見る少女の前奏曲 [Yumemiru Shōjo no Prelude] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. 
  28. ^ ソラ舞う天使の鎮魂曲 [Sora Mau Tenshi no Requiem] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  29. ^ 恋する乙女の狂想曲 [Koisuru Otome no Rhapsody] (bằng tiếng Nhật). Lantis. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2011. 
  30. ^ 「劇場版"文学少女"」 原稿を食べちゃうくらい小説を愛する少女が事件に挑む (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun. Ngày 1 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017. 
  31. ^ Kono Light Novel ga Sugoi! 2007 (bằng tiếng Nhật). Takarajimasha. Ngày 21 tháng 11 năm 2006. ISBN 978-4-7966-5559-0. 
  32. ^ Kono Light Novel ga Sugoi! 2008 (bằng tiếng Nhật). Takarajimasha. Ngày 21 tháng 11 năm 2007. ISBN 978-4-7966-6140-9. 
  33. ^ Kono Light Novel ga Sugoi! 2010 (bằng tiếng Japanese). Takarajimasha. Ngày 21 tháng 11 năm 2009. ISBN 978-4-7966-7490-4. 
  34. ^ a ă Kono Light Novel ga Sugoi! 2009 (bằng tiếng Nhật). Takarajimasha. Ngày 22 tháng 11 năm 2008. ISBN 978-4-7966-6695-4. 
  35. ^ Kono Light Novel ga Sugoi! 2011 (bằng tiếng Nhật). Takarajimasha. Ngày 19 tháng 11 năm 2010. ISBN 978-4-7966-7963-3. 
  36. ^ “Kadokawa Announces 2007 Light Novel Awards”. Anime News Network. Ngày 1 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017. 
  37. ^ a ă “Cô gái văn chương và Tên hề thích chết (Tiểu thuyết) - Đánh giá” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]