Camille Chamoun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Camille Nimr Chamoun (tiếng Ả Rập: كميل نمر شمعون, phát âm tiếng Ả Rập: [kamiːl ʃamʕ'uːn] Kamīl Sham'ūn) (3 tháng 4 năm 1900 - 7 tháng 8 năm 1987) là Tổng thống Lebanon từ năm 1952 đến năm 1958 và là một trong số Các nhà lãnh đạo Kitô giáo chính trong suốt cuộc nội chiến Liban (1975-1990).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Camille Nimr Chamoun sinh ra tại Deir el-Qamar vào ngày 3 tháng 4 năm 1900 thành một gia đình Maronite nổi bật.[1][2] Ông nhận bằng luật sư từ Đại học St. Joseph. Ông được bầu vào Quốc hội Lebanon năm 1934, và tái cử các năm 1937 và 1943. Là một người đấu tranh cho độc lập của Liban khỏi Pháp, ông bị bắt vào ngày 11 tháng 11 năm 1943, và bị giam trong lâu đài Rashaïa, nơi ông bị giam giữ trong mười một ngày, cùng với Bechara El KhouryRiad Al Solh, những người lần lượt trở thành Tổng thống và Thủ tướng đầu tiên của nước cộng hòa mới. Các cuộc biểu tình công khai quy mô lớn đã dẫn tới việc ông được thả vào ngày 22 tháng 11, từ đó được kỷ niệm là Ngày Quốc khánh Liban.

Chamoun tái cử Quốc hội, vào năm 1947 và 1951. Tuy nhiên, ông thường vắng mặt tại Quốc hội khi ông làm đại sứ tại Anh Quốc từ năm 1944 đến năm 1946, và sau đó là đại sứ của Liên hợp quốc. Năm 1930, ông cưới Zelpha (hoặc Zalfa) Tabet và họ có hai người con trai, Dory và Dany.

Cách mạng 1958[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Tổng thống Bechara El Khoury buộc phải từ chức khi có những cáo buộc tham nhũng năm 1952, Chamoun được bầu vào thay ông này. Gần cuối nhiệm kỳ, các nhà báo Ả Rập và các nhóm khác do Nasser ủng hộ, với sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng người Hồi giáo Liban (đặc biệt là người Sunni), đã cố gắng lật đổ chính phủ của Chamoun vào tháng 6 năm 1958 sau khi Chamoun cố tìm kiếm thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa. Tình trạng này có thể đã cho thấy rằng 9 đời Thủ tướng Chính phủ đã thành lập nội các dưới 6 năm dưới thời Tổng thống Chamoun, do đó các chính trị gia Sunni không phải lúc nào cũng có thể biện minh cho mối liên hệ của họ với nền chính trị của mình cho các cử tri và cơ sở quyền lực phổ biến của họ. Thực tế này rõ ràng là trong những áp lực phải đối mặt với cơ sở chính trị El-Bizri ở Sidon trong khi nghị sĩ Quốc hội lâu năm Tiến sĩ Nazih El-Bizri phục vụ như một bộ trưởng nội các trong nhiệm kỳ của Chamoun. Trước sự bất ổn trong nước, với tâm chấn ở Sidon khi bắt đầu cuộc biểu tình, Chamoun cuối cùng kêu gọi Hoa Kỳ giúp đỡ theo học thuyết Eisenhower mới, và các lính thủy đánh bộ Mỹ đến Beirut. Hơn nữa, Naim Moghabghab, một người bạn thân và đồng minh chính trị, đã thành lập và lãnh đạo một nhóm quân sự để củng cố vị trí của Chamoun. Nhiều trận đánh xảy ra, chủ yếu ở Beirut và quận Chouf, nơi các cuộc đụng độ giữa Naim Moghabghab và những người đàn ông của Kamal Jumblatt đã dẫn đến những cuộc chiến đẫm máu. Cuộc nổi dậy đã bị đè bẹp, nhưng để trấn áp người Hồi giáo tức giận, tướng Fuad Chehab, người tuyên bố rằng ông là một Cơ đốc nhân có được sự nổi tiếng đáng kể trong cộng đồng Hồi giáo, được bầu để kế nhiệm Chamoun. Nhà ngoại giao Mỹ Robert D. Murphy, được phái đến Liban làm đại diện cá nhân của Tổng thống Eisenhower, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cho phép Chamoun hoàn thành nhiệm kỳ của mình một cách bình thường và Chehab được bầu theo thủ tục hiến pháp.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chamoun, Camille (Nimer)”. Rulers.org. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ Itamar Rabinovich (ngày 1 tháng 9 năm 1989). Middle East Contemporary Survey, 1987: 1985. The Moshe Dayan Center. tr. 636. ISBN 978-0-8133-0925-5. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2013.