Faster, Pussycat! Kill! Kill!

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Faster, Pussycat! Kill! Kill!

Faster pussycat kill kill poster (1).jpg
Poster chính thức của phim
Thông tin phim
Đạo diễnRuss Meyer
Sản xuất
Tác giả
  • Russ Meyer
  • Jack Moran
Diễn viên
Người dẫn chuyệnJohn Furlong
Âm nhạc
Quay phimWalter Schenk
Dựng phimRuss Meyer
Hãng sản xuất
EVE Productions
Phát hànhRM Films International
Công chiếu
  • 6 tháng 8, 1965 (1965-08-06)
Độ dài
83 phút[1]
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí$45,000[2]
Doanh thu$36,122 (tái ra mắt năm 1995 tại Mỹ)

Faster, Pussycat! Kill! Kill! là một phim Mỹ thể loại exploitation ra mắt năm 1965 của đạo diễn Russ Meyer, kịch bản viết bởi Meyer và Jack Moran. Cốt truyện xoay quanh 3 vũ công thực hiện tội ác bắt cóc, giết người và cướp tài sản ở sa mạc California.

Bộ phim được biết đến với sự bạo lực, cùng những phân đoạn gơi dục cùng một số đoạn thoại đầy ấn tượng.[3] Bộ phim cũng làm tên tuổi của nữ diễn viên chính Tura Santana trở nên nổi tiếng, vai diễn của cô cũng được đánh giá là "vai diễn chân thực nhất trong những tác phẩm của đạo diễn Meyer".[4] Bộ phim là một thất bại về doanh thu trong những ngày đầu công chiếu, tuy nhiên sau này bộ phim lại được đánh giá là một tác phẩm quan trọng và có sức ảnh hưởng lớn đến những bộ phim Hollywood cùng thể loại sau này.[5][6][7]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

3 nữ vũ công Varla, Billie và Rosie với vẻ ngoài "tự do, hoang dã và phiêu lưu", với Varla được xem như người đứng đầu nhóm, cùng thực hiện một cuộc đua xe trên sa mạc California sau buổi trình diễn của họ tại một quán bar. Sau đó, họ gặp một cặp tình nhân trẻ, Tommy và Linda. Tommy giới thiệu với họ mình là một tay đua. Varla sau đó thách thức Tommy trong một cuộc đua và Varla đã thắng Tommy một cách gian lận. Tức giận vì phản ứng yếu ớt của Tommy sau khi thua cuộc, Varla đã đánh nhau với Tommy và sau đó đánh chết Tommy, và sau đó bắt cóc và đánh thuốc mê Linda.

Cả nhóm sau đó đến một thị trấn trên sa mạc. Billie nhìn thấy một thanh niên cao to, lực lưỡng và lấy làm thích thú. Sau đó chàng trai ôm một ông lão bị liệt 2 chân lên xe và cả 2 rời đi. Cả nhóm được người nhân viên trạm xăng tiết lộ rằng chàng trai kia là Vegetable và ông lão là bố chàng trai. Ông lão này cũng đang giữ một khoảng tiền rất lớn. Varla nảy ra ý định cướp số tiền này từ ông lão. Sau đó cả nhóm quyết định đến nông trại của ông lão.

Cả nhóm gặp ông lão và cậu con trai Vegetable. Varla nói với họ rằng nhóm cô đang trên đường để đưa Linda trở về nhà. Varla bịa ra câu chuyện rằng Linda là một cô gái có thần kinh không ổn định và có bạn trai vừa chết trong một tai nạn giao thông, cha của Linda là một chính trị gia và không muốn làm lớn chuyện này. Sau đó, Varla và Rosie kiểm tra xung quanh ngôi nhà trong khi Billie và Linda ngồi ở thềm nhà nói chuyện với ông lão và Vegetable. Billie tìm cách quyến rũ Vegetable. Đoạn thoại của họ cho thấy Vegetable thực sự là một chàng trai rất yếu đuối, và ông lão nói xa gần để con trai mình phải hãm hiếp Billie. Sau đó Billie và Vegetable đi ra nhà kho, và Vegetable bắt đầu tập thể hình trong khi Billie tiếp tục quyến rũ anh. Bất ngờ có tiếng la ở ngoài của Linda, cả 2 chạy ra ngoài thì thấy ông lão bị xô ngã xuống đất và Linda thì đã chạy mất. Ông lão nói rằng Linda đã cố giết ông, khi tất cả đều chạy đi tìm Linda thì ông lão lấy ra một mẩu vai xé từ áo Linda, chứng tỏ rằng ông đã có ý định hãm hiếp cô gái.

Trên đường trốn chạy, Linda gặp một chàng trai là Kirk trên đường về nông trại. Cô cố gắng nói với anh về mọi chuyện và xin anh hãy giúp cô trốn đi nhưng Kirk cho rằng một chuyện ở nông trại vẫn ổn và an ủi Linda. Kirk lại chở Linda trở về nông trại. Khi trở về nông trại, Linda mới biết Kirk cũng là con trai của ông lão và Kirk cũng được ông lão kể câu chuyện bịa đặt của Varla về Linda. Sau đó cả nhóm được gia đình ông lão mời ăn trưa. Trong buổi ăn, ông lão tiết lộ rằng vợ ông đã chết đi sinh ra Vegetable là con trai út vì thế ông rất ghét anh, Varla cũng tìm cách quyến rũ Kirk trong buổi ăn. Billie uống say và nói rằng Varla là kẻ giết người, và không ai trong gia đình ông lão tin chuyện này, Varla tức giận và tát Billie. Sau đó, tất cả rời đi, trên bàn ăn chỉ còn ông lão, Linda và Billie. Billie tiếp tục uống say và sau đó ngất đi.

Ở ngoài, Varla tìm cách quyến rũ Kirk để lừa anh khai ra ông lão giấu tiền ở đâu. Sau đó ông lão lại hét lên rằng Linda tiếp tục bỏ trốn. Ông lão và Vegetable lái xe đi tìm Linda, Varla và Kirk cũng đi tìm. Sau đó, ông lão và Vegetable tìm thấy Linda, ông lão bắt buộc Vegetable phải hãm hiếp cô. Varla và Kirk sau đó cũng tìm thấy họ và Kirk định cứu Linda. Tuy nhiên, trước sự bất ngờ của mọi người, Vegetable chỉ qùy xuống khóc và xin Linda tha thứ. Varla sau đó chế nhạo mọi người. Kirk không còn tin Varla nữa và bắt đầu tin mọi chuyện Linda nói với anh ban đầu là đúng. Varla lái xe đi và bỏ lại Kirk. Kirk yêu cầu ông lão đưa chìa khóa để anh đưa Linda về như ông lão không đồng ý. Kirk tức giận đánh ông lão và sau đó anh dẫn Linda đi bộ. Ông lão cho rằng những cô gái đến đây hôm nay chỉ mang đến rắc rối cho ông và quyết định sẽ đuổi họ đi khi trở về.

Varla trở về nông trại và yêu cầu Rosie và Billie phải rời đi. Billie nói với họ rằng cô muốn rời nhóm và sẽ ở lại đây. Varla tức giận và giết chết BIllie khi cô rời đi. Ông lão và Vegetable trở về, Vegetable thấy Billie nằm chết và ông lão đuổi tất cả đi. Sau đó, Varla và Rosie ngồi trên xe và cán chết ông lão khi Vegetable đang ngồi bên xác Billie và không để ý. Varla và Rosie nhìn thấy số tiền của ông lão tất cả đều nằm dưới chiếc xe lăn của ông. Varla thu gom tiền và yêu cầu Rosie đi lấy lại con dao mà cô đã phóng chết Billie lúc nãy. Sau đó, Rosie bị Vegetable đâm chết. Varla thấy xác của Rosie và định lái xe để đâm chết Vegetable nhưng Vegetable đã cố hết sức để đẩy xe của Varla ra. Sau một hồi giằng co, Vegetable làm xe của Varla bị lún sâu xuống cát và không thể chạy được trong khi anh bị tổn thương các cơ bắp nặng và không thể đứng dây được. Varla bỏ đi với số tiền và chiếc xe của ông lão.

Varla lái xe đi tìm Linda. Tại đây, cô thấy Kirk và Linda đang đi đến. Cô đánh nhau với Kirk và gần đánh bại được anh. Linda chạy đến chiếc xe của ông lão và tông chết Varla. Kirk và Linda lái xe đi trên chiếc xe của ông lão.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tura Santana vai Varla
  • Haji vai Rosie
  • Lori Williams vai Billie
  • Susan Bernard vai Linda
  • Stuart Lancaster vai những Ông lão
  • Paul Trinka vai Kirk
  • Dennis Busch vai Vegetable
  • Ray Barlow vai Tommy
  • Mickey Foxx vai Nhân viên trạm xăng
  • John Philadelphia vai Người dẫn chuyện

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Kịch bản phim được viết bởi Jack Moran từ câu chuyện gốc của Russ Meyer. Kịch bản nháp đầu tiên của phim mang tên The Leather Girls và được viết tóm tắt trong bốn ngày trước bởi Moran, người trước đó đã hợp tắc với đạo diễn Meyer trong các phim Common Law Cabin và Good Morning and... Goodbye!.[8] Sau đó, The Mankillers được chọn làm tên của phim, và quá trình làm phim bắt đầu thực hiện cho đến khi nhà sản xuất âm thanh và biên tập, Richard S. Brummer, lựa chọn tên chính thức cho bộ phim như ngày nay. Dù cả Moran và Meyer đều không tuyên bố rằng tác phẩm của mình chịu ảnh hưởng của bất kì bộ phim nào trước đó, cốt truyện phim lại được xem là bản "remake" của The Desperate Hours, hoặc có thể là The Virgin Spring".[9]

Đạo diễn Russ Meyer đã bắt đầu làm phim trong khi phục vụ trong Công ty 166 Signal Photographic thuộc Quân đội Mỹ, trong Thế Chiến II. Ông đã nổi tiếng với những thước phim chính xác về các sư đoàn với đoàn phim của ông chỉ gồm phần lớn là các bạn bè củ trong quân đội.[3] Diễn viên Charles Napier, người đã xuất hiện trong 5 bộ phim của Meyer, đã nói rằng, "làm việc với Russ Meyer cũng như việc bạn ở trong làn sóng đầu tiên đổ bộ xuống Normandy trong Thế Chiến II vậy".[10] Meyer tiến hành quay bộ phim này cũng không khác với những bộ phim trước đó của ông và nói rằng "Đó là những điều bình thường với tôi. Nó cũng giống như đang ở trong quân đội. Tất cả mọi người phải thức dậy và làm việc cùng nhau. Và chỉ có vậy thôi."[11] Phong cách đạo diễn của Meyer và các quy tắc mà ông áp dụng với dàn diễn viên và đoàn làm phim gây ra xung đột với diễn viên Tura Satana.[12] Mâu thuẫn cũng xảy ra giữa diễn viên Susan Bernard và đạo diễn với các diễn viên khác, mâu thuẫn chủ yếu được cho là đến từ sự hiện diện của mẹ cô trên phim trường (do Bernard lúc đó chỉ mới là một trẻ vị thành niên 16 tuổi). Bernard đã nói trong cuộc phỏng vấn rằng cô ấy đã thật sự sợ hãi Sultana, và một số người có thể nghĩ rằng điều này đã giúp cô hóa thân tốt vào vai diễn của một nạn nhân bị bắt cóc.[13]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Faster, Pussycat! có một ngân sách khiêm tốn với $45,000 và được sản xuất dưới dạng phim trắng đen để tiết kiệm chi phí.[14][15] Màn vũ khêu gợi đầu phim được quay ở Pussycat Clube, một câu lạc bộ thoát y ở Van Nuys, trước khi chuyển tới các cảnh quay ở sa mạc California trong đêm đó. Cảnh đua xe ở đầu phim được quay ở khu hồ muối của Hồ Cunniback, cảnh phim ở trạm xăng được quay tại thị trấn Randsburg[16] và các phân đoạn chính ở khu nông trại của ông lão được quay bên ngoài thị trấn Mojave.[17] Đoàn làm phim nghỉ tại khu nhà nghỉ Adobe tại Johannesburg.[18]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát tiêu đề của phim "Faster Pussycat!" được thực hiện bởi ban nhạc California, the Bostweeds. Lời bài hát đã được viết bởi Rick Jarrard và âm nhạc đã được viết và hát bởi Lynn Ready, người sáng lập ban nhạc the Bostweeds. Bài hát không bao giờ được phát hành thương mại, nhưng nó đã xuất hiện trong tháng hai năm 1966 dưới dạng quảng cáo.[19]

Phê bình và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Faster, Pussycat! Kill! Kill! được công chiếu ở Los Angeles vào ngày 6 tháng tám năm 1965.[20] Không phải là một tác phẩm điển hình của đạo diễn Russ Meyer, bộ phim ban đầu là một thất bại về mặt doanh thu, và đã bị đánh giá thấp bởi những nhà phê như là một bộ phim khiêu dâm (skin-flick). Nhà phê bình John L. Wasserman của tờ San Francisco Chronicle, đã xem kịch bản của phim Faster, Pussycat!Mudhoney vào tháng 4, năm 1966, và kết luận rằng "Pussycat là một kịch bản tệ nhất từng được viết, và Mudhoney là bộ phim tệ nhất từng được sản xuất."[21][22]

Trong những năm kể từ khi bộ phim được xem nhiều thuận lợi, được cả hai quan trọng và thương mại tầm vóc. Là tháng tư năm 2015 nó nắm giữ một "ngọt" đánh giá trên phim xét trang web tập hợp Thối cà Chuavới 73% (mười chín mươi sáu) nhà phê bình nhận xét tích cực.[23] Trong đánh giá của sự của bộ phim, 1995 tái phát hành, Giải Pulitzer-chiến thắng nhà phê bình Roger diễn viên cho bộ phim ba, bốn sao.[24] Nhà hoạt động nữ quyền và cũng là nhà phê bình điện ảnh B. Ruby Rich nói rằng lần đầu tiên cô xem bộ phim là vào những năm 1970 và cô đã cảm thấy hoàn toàn bị xúc phạm với tác phẩm mà cô cho là kì thị phụ nữ này, cô cũng cho rằng đây không khác gì một bộ phim khiêu dâm hạng nhẹ (soft-core porn)."[25] Tuy nhiên, sau khi xem lại bộ phim vào những năm 1990, cô ấy lại cảm thấy thích bộ phim và đã viết một bài báo trên tờ Village Voice về sự thay đổi nhận định của mình về bộ phim.[25]

Faster, Pussycat! Kill! Kill! hiện ở vị trí 674 trong danh sách "1,000 bộ phim vĩ đại Nhất"[26] và được xếp hạng thứ 377 trong cuộc bình chọn "Greatest Film Poll" (bình chọn những bộ phim xuất sắc nhất) của Sight & Sound[27] Faster, Pussycat! Kill! Kill! cũng xuất hiện thường xuyên trong danh sách những bộ phim Hạng B hay nhất và cult film của mọi thời đại.[28][29][30][31][32]

Bộ phim cũng đã có ảnh hưởng đến các nhà làm phim khác. Nhà văn và đạo diễn, John Waters ghi trong cuốn sách của ông, Shock Value: "Không còn nghi ngờ gì nữa, Faster, Pussycat! Kill! Kill! là bộ phim hay nhất từng được sản xuất. Nó có thể tốt hơn so với bất kỳ bộ phim nào được sản xuất trong tương lai."[33] Ông nhận định về việc tái xuất bản bộ phim "tuổi của nó cũng như rượu ngon vậy" (it ages like fine wine). Giám đốc âm nhạc Keir McFarlane thừa nhận rằng một trong các video trong bài hát của Janet Jackson, "You Want This" là một sự trực tiếp bày tỏ lòng kính trọng Faster, Pussycat!, với hình ảnh người ca sĩ hát trên chiếc Porsche cùng cô bạn đồng hành lái xe vòng tròn quanh hai người đàn ông trong sa mạc. Đạo diễn Quentin Tarantino trong phần credit phim Death Proof đã gởi lời cảm ơn đến đạo diễn Russ Meyer,[34] và trong bài báo trên Variety năm 2008, Tarantino nói ông muốn làm một bản làm lại (remake) cho phim Faster, Pussycat! Kill! Kill!.[35][36]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên Stuart Lancaster (ngồi trên xe lăn) vai Ông Già.
  • Một ban nhạc metal glam của Mỹ đã lấy tên Faster Pussycat.[37]
  • Audio samples from the film are featured in four songs by metal band White Zombie on their third album, La Sexorcisto: Devil Music, Vol. 1. The dialogue "You're all shook up, aren't you, baby?" and "I never try anything, I just do it. Wanna try me?" are used in the song "Thunder Kiss '65". "You're all shook up, aren't you, baby?" is also used in the song "Cosmic Monsters, Inc." and the line "Now let's move, but let's take the back door" in the song "Welcome to Planet Motherfucker/Psychoholic Slag". Another line, "I work on this baby the same way, trying to get maximum performance", is used in "Black Sunshine".[38][39]
  • An early dialogue choice in the Square Enix episodic video game Life is Strange allows the player, as main character Max Caulfield, to talk about the movie with her friend Warren Graham from whom she borrowed a B movie-filled flash drive.
  • Tên tiếu thuyết có hình ảnh Like a Velvet Glove Cast in Iron, của tác giả Daniel Clowes, được lấy từ một câu thoại trong phim để miêu tả nhân vật Varla.[40]
  • Nhạc phim, "Faster Pussycat!", đã được cover lại nhiều lần, đặc biệt là bởi ban nhạc the Camps, một ban nhạc punk người Mỹ trong album Smell of Female năm 1983.
  • In Quentin Tarantino's 2007 film Death Proof, the character Shanna is wearing a T-shirt featuring Tura Satana's character Varla with the words "BADASS CINEMA" underneath it. Meyer is also one of the directors Tarantino thanks in the end credits.
  • Một trong các poster của film được sử dụng trong tiểu thuyết tuổi teen năm 2008, Evernight (trang 134) của tác giả Amy Vincent (dưới bút danh là Claudia Grey) "Evernight", poster này xuất hiện trên cửa phòng ký túc xá của một trong các nhân vật phụ.
  • Ba nhân vật chính trong phim "Pee-wee's Big Holiday" của John Lee năm 2016 được lấy cảm hứng từ 3 nhân vật chính của Faster, Pussycate! Kill! Kill![41]
  • Tên phim đã trở thành một biểu tượng và được nhắc tới khá nhiều trong các tác phẩm văn hóa đại chúng khác:
    • Bài hát "Funplex" (2008) của The B-52 có một câu: "Faster pussycat, thrill thrill", như một các để nhắc tới bộ phim.[42]
    • In the Buffy the Vampire Slayer episode "Passion", Xander Harris encourages Buffy and the others to go after the vampire Angelus, saying "If Giles wants to go after the, uh, fiend that murdered his girlfriend, I say, 'Faster, pussycat, kill, kill'."[43]
    • Tập phim "Foster Pussycat! Kill! Kill!" của phim hoạt hình Itchy & Scratchy trong loat phim Simpsons, tập "Home Sweet Homediddly-Dum-Doodily".[44]
    • Single Faster Kill Pussycat năm 2006 của Paul Oakenfold với Brittany Murphy.
    • The film is referenced by protagonist Max Caulfield in the 2015 game Life Is Strange.
    • The music video for the Janet Jackson song "You Want This" from her self-titled 1993 album JANET (aka janet.) pays homage to the film even down to the video filmed in black and white.
    • Trong trò chơi House of the Dead: Overkill cho máy Nintendo Wii, có một nhân vật tên là Varla Guns, được lấy cảm hứng từ bộ phim.
    • The sixth episode of the CW's 2017 series Riverdale is titled after the film, "Faster Pussycats Kill Kill," the plural variation in reference to the series' characters and band, Josie and the Pussycats.[45]

Bộ phim Bitch Slap (2009) được lấy cảm hứng từ các bộ phim của Russ Meyer, đặc biệt là Faster Pussycats Kill Kill. Cũng như Faster, Pussycat! Kill! Kill!, Bitch Slap có ba nữ nhân vật chính đến một sa mạc để tìm một kho báu. Cảnh mở đầu và kết thúc trong phim Bitch Slap đều lấy một số cảnh trong Faster, Pussycat! Kill! Kill! cùng một số phim Hollywood hạng B khác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ FASTER PUSSYCAT, KILL, KILL (X)”. British Board of Film Classification. Ngày 31 tháng 7 năm 1980. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016. 
  2. ^ Top Ten Low Budget Films Under $500,000. Daily Film Dose. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013
  3. ^ a ă DeFino, Dean (2014). Faster, Pussycat! Kill! Kill!. London: Wallflower Press. pp. 19–20. ISBN 9780231167390.
  4. ^ Corliss, Richard (ngày 2 tháng 8 năm 2002). "Thanks for the Mammaries". Time. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015.
  5. ^ Willman, Chris (ngày 11 tháng 12 năm 1994). "Return of the Ultrapussycats". Los Angeles Times. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
  6. ^ DeFino, Dean (2014). Faster, Pussycat! Kill! Kill!. Luân Đôn: Wallflower Press. pp. 25–27. ISBN 9780231167390.
  7. ^ Ebert, Roger. "Faster Pussycat! Kill! Kill!". RogerEbert.com. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
  8. ^ McDonough, Jimmy (2005). Big Bosoms and Square Jaws: The Biography of Russ Meyer, King of the Sex Film (1st ed.). New York: Crown. pp. 162–163. ISBN 1-4000-5044-8.
  9. ^ Solomon, Jon (2001). The Ancient World in the Cinema . New Haven [u.a.]: Yale Univ. Press. tr. 17. ISBN 0-300-08337-8. 
  10. ^ McDonough, Jimmy (2005). Big Bosoms and Square Jaws: The Biography of Russ Meyer, King of the Sex Film (1st ed.). New York: Crown. p. 54. ISBN 1-4000-5044-8.
  11. ^ Rabin, Nathan. “Russ Meyer (Interview)”. A.V. Club. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015. 
  12. ^ Morris, Gary. "Russ Meyer: An Interview". Bright Lights Film Journal. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015.
  13. ^ McDonough, Jimmy (2005). Big Bosoms and Square Jaws: The Biography of Russ Meyer, King of the Sex Film (1st ed.). New York: Crown. pp. 170–172. ISBN 1-4000-5044-8.
  14. ^ DeFino, Dean (2014). Faster, Pussycat! Kill! Kill!. Luân Đôn: Wallflower Press. p. 15. ISBN 9780231167390.
  15. ^ Morris, Gary. “Russ Meyer: An Interview”. Bright Lights Film Journal. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015. 
  16. ^ “Adult Film Locations 10: Faster, Pussycat! Kill! Kill! (1965) - The Rialto Report”. 
  17. ^ McDonough, Jimmy (2005). Big Bosoms and Square Jaws: The Biography of Russ Meyer, King of the Sex Film (1st ed.). New York: Crown. pp. 168–169. ISBN 1-4000-5044-8.
  18. ^ McDonough, Jimmy (2005). Big Bosoms and Square Jaws: The Biography of Russ Meyer, King of the Sex Film (1st ed.). New York: Crown. p. 172. ISBN 1-4000-5044-8.
  19. ^ “One Side Wonders #11: The Bostweeds – Faster Pussycat! (1966)”. Cosmic Mind at Play. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  20. ^ “Faster, Pussycat! Kill! Kill!”. Turner Classic Movies Database. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  21. ^ “Two Films with But One Thought”. 
  22. ^ “Russ Meyer, 82; Iconic Sexploitation Filmmaker”. 
  23. ^ “Faster, Pussycat! Kill! Kill!”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  24. ^ Ebert, Roger. “Faster Pussycat! Kill! Kill!”. RogerEbert.com. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  25. ^ a ă Myers, Emma. “Profiles in Criticism: B. Ruby Rich”. Criticwire. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  26. ^ Georgaris, Bill. “1,000 Greatest Films”. They Shoot Pictures, Don't They?. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015. 
  27. ^ “Sight & Sound Greatest Films Poll”. British Film Institute. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015. 
  28. ^ “The Top 50 Cult Movies of All Time”. 
  29. ^ Vorel, Jim. “The 100 Best "B Movies" of All Time”. Paste. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  30. ^ Kuersten, Erich. “BLAD Top Tens by Genre”. Bright Lights Film Journal. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  31. ^ Crouse, Richard (2008). Son of The 100 Best Movies You've Never Seen. Toronto: ECW Press. ISBN 9781554903306.
  32. ^ Grey, Carmen. “Top ten exploitation films”. Dazed. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  33. ^ Waters, John (2005). Shock Value: A Tasteful Book About Bad Taste. Philadelphia: Running Press. ISBN 978-1560256984.
  34. ^ “The Ultimate Death Proof Movie References Guide”. The Quentin Tarantino Archives. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015. 
  35. ^ “Tarantino wants to remake 'Faster Pussycat'. 
  36. ^ “Tarantino's Lost Projects”. We Are Movie Geeks. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015. 
  37. ^ “Faster Pussycat”. Allmusic. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  38. ^ “Sample Sources”. Psychoholic World of White Zombie. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  39. ^ DeFino, Dean (2014). Faster, Pussycat! Kill! Kill!. Luân Đôn: Wallflower Press. p. 38. ISBN 9780231167390.
  40. ^ Shiner, Lewis. "The Role of Compassion in Daniel Clowes' Like a Velvet Glove Cast in Iron" Error in webarchive template: Check |url= value. Empty. , Sitcom (1995). Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  41. ^ “Pee-wee's Big Holiday Star Jessica Pohly Shares Valuable Advice from Paul Reubens”. Toofab.com. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2016. 
  42. ^ “Funples Lyrics”. Metrolyrics. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  43. ^ “Passion: Trivia, Quotes, Notes and Allusions”. TV.com. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  44. ^ DeFino, Dean (2014). Faster, Pussycat! Kill! Kill!. Luân Đôn: Wallflower Press. p. 89. ISBN 9780231167390.
  45. ^ “Riverdale Video - Chapter Thirteen: The Sweet Hereafter | Watch Online Free”. Cwtv.com. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2017.