Fatality (Mortal Kombat)

Fatality (hay còn gọi là đòn kết liễu) là một tính năng lối chơi của loạt trò chơi điện tử đối kháng Mortal Kombat, trong đó Người chiến thắng ở vòng cuối cùng trong một trận đấu sẽ có thể đưa ra đòn kết liễu tàn bạo và cũng là cách kết thúc thỏa mãn nhất để giết chết đối thủ đã bị đánh bại của họ.
Fatality sẽ đi kèm thông báo nhắc nhở "Finish Him/Her",[b] người chơi có một khoảng thời gian ngắn để thực hiện Fatality bằng cách nhập một nút cụ thể và tổ hợp phím điều khiển, đồng thời được định vị ở một khoảng cách cụ thể từ phía đối thủ.
Fatality và các nguồn gốc của nó được cho là những đặc điểm đáng chú ý nhất của loạt Mortal Kombat, gây ra tác động lớn về mặt văn hóa và vô vàn tranh cãi.
Khái niệm
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn gốc của khái niệm kết liễu bắt nguồn từ một số phương tiện truyền thông võ thuật châu Á bạo lực. Trong The Street Fighter (1974), một bộ phim về võ thuật Nhật Bản, Sonny Chiba thực hiện các động tác kết liễu chí mạng bằng tia X, vào thời điểm đó được coi như một mánh lới quảng cáo để tách biệt với các phim võ thuật khác.[3] Trong bộ shōnen manga và anime Fist of the North Star (ra mắt năm 1983) của Nhật Bản, nhân vật chính Kenshiro thực hiện những cái chết đẫm máu dưới hình thức kết liễu, như tấn công vào các điểm áp lực khiến đầu và cơ thể phát nổ, tương tự như trong Mortal Kombat.[4] Bộ seinen manga và anime Riki-Oh (ra mắt năm 1988) của Nhật Bản, cùng với bộ phim chuyển thể hành động Hong Kong Story of Ricky (1991) cũng có những cái chết đẫm máu dưới dạng kết liễu tương tự như những đòn thế sau này xuất hiện trong Mortal Kombat.[5][6]
Trong khi tạo ra Mortal Kombat, Ed Boon và John Tobias bắt đầu bằng ý tưởng về hệ thống mang phong cách Street Fighter II và giữ lại nhiều quy ước của nó, nhưng chỉnh sửa những thứ khác. Những bổ sung đáng chú ý nhất là hiệu ứng đồ họa máu me, kỹ thuật chiến đấu tàn bạo hơn và đặc biệt là các đòn kết liễu chí mạng (đây là một điểm mới lạ, khi các trò chơi song đấu truyền thống kết thúc bằng việc kẻ thua cuộc chỉ đơn giản là bất tỉnh và người chiến thắng quay mặt tạo dáng với người chơi).[7] Theo Boon, điều này bắt đầu bằng một ý tưởng cho phép người chơi tiếp tục đánh đối thủ đã bị choáng vào cuối trận đấu bằng một "đòn đánh tự do", và ý tưởng đó "nhanh chóng phát triển thành một thứ gì đó ghê tởm."[8] Tobias nhớ lại điều đó theo cách khác: "Ý tưởng đầu tiên của chúng tôi là sử dụng chúng như một đòn kết liễu cho trùm cuối Shang Tsung, người sẽ rút kiếm và chặt đầu đối thủ. Sau đó, chúng tôi nghĩ, 'Điều gì sẽ xảy ra nếu người chơi có thể làm điều đó với chính đối thủ của họ?'"[9]
Fatality đầu tiên họ làm là Johnny Cage (nhân vật duy nhất được tạo ra cho trò chơi vào thời điểm đó) sẽ đấm bay đầu đối thủ, được tạo ra bởi Daniel Pesina[10] và Boon thực hiện.[11] Tobias và cựu lập trình viên của Midway Games là Mark Turmell nói rằng ban đầu, không ai ở Midway mong đợi người chơi sẽ tìm thấy tính năng Fatality trong trò chơi.[11][12] Tobias nói: "Khi chúng tôi xem các game thủ phản ứng với Fatality, chúng tôi biết rằng không có lựa chọn nào khác ngoài việc cung cấp cho họ nhiều hơn nữa."[9]
Lối chơi
[sửa | sửa mã nguồn]

Tác động văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]Những trò chơi trong loạt cũng có các loại Fatality và Finisher khác nhau:
Thú tính
[sửa | sửa mã nguồn]Cho phép nhân vật biến hình thành một động vật và tấn công đối thủ. Được giới thiệu trong Mortal Kombat 3.[13] Theo Ed Boon, đòn kết liễu này từng được đồn đoán sẽ xuất hiện trong Mortal Kombat II và sau đó đã được thêm vào Mortal Kombat 3 do nhu cầu cao từ người hâm mộ.[8]
Tính trẻ con
[sửa | sửa mã nguồn]Được giới thiệu trong Mortal Kombat II, kỹ năng này biến những đối thủ bị đánh bại thành phiên bản trẻ sơ sinh của chính họ.[13]
Tàn bạo
[sửa | sửa mã nguồn]Được giới thiệu trong Ultimate Mortal Kombat 3, chiêu thức này bao gồm một chuỗi combo nhiều đòn đánh khiến đối thủ phát nổ.[14] Trong các phần game sau này, Brutality gắn liền với các chiêu thức cụ thể đóng vai trò là đòn kết liễu.[13]
Giết phe phái
[sửa | sửa mã nguồn]Chỉ xuất hiện trong Mortal Kombat X, đòn kết liễu này phù hợp với hệ thống phe phái của trò chơi, cung cấp các đòn kết liễu theo chủ đề phe phái như một phần thưởng cho lòng trung thành với phe phái tương ứng.[15]
Tình bạn
[sửa | sửa mã nguồn]
Đòn kết liễu này là một lựa chọn thay thế cho Fatality, được sử dụng để kết thúc trận đấu một cách thân thiện.[16]
Hara-Kiri
[sửa | sửa mã nguồn]Được giới thiệu trong Mortal Kombat: Deception. Đây là một đòn kết liễu mà người chơi thua cuộc tự sát thay vì bị đối thủ kết liễu.[13]
Anh hùng bạo tàn
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là chiêu thức độc quyền trong trò chơi kết hợp năm 2008 của Mortal Kombat vs. DC Universe và được thực hiện bởi các anh hùng DC thay vì một đòn kết liễu thông thường, để thể hiện quy tắc đạo đức của họ chống lại việc giết người.[17]
Kreate-A-Fatality
[sửa | sửa mã nguồn]Đối với Mortal Kombat: Armageddon, khái niệm Fatality đã được sửa đổi hoàn toàn, tập trung nhiều hơn vào các đòn kết hợp thay vì các đòn kết liễu đặc trưng của từng nhân vật.[7]
Giai đoạn Fatality
[sửa | sửa mã nguồn]Tính năng này mang đến sự tương tác với môi trường trong game, xảy ra khi người chơi sử dụng một phần của sàn đấu để tiêu diệt đối thủ. Một số ví dụ về Stage Fatalities là khiến nạn nhân rơi xuống hồ axit hoặc hố đầy gai nhọn, hoặc va chạm với tàu điện ngầm.[18]
Các trường hợp khác
[sửa | sửa mã nguồn]Trường hợp Fatality đáng chú ý
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Midway (ngày 11 tháng 10 năm 2006). Mortal Kombat: Armageddon Premium Edition. Midway. Cấp/khu vực: "The History of Fatalities" commentary.
- ↑ "John Tobias, Mortal Kombat co-creator | Interview | The Gameological Society". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2018.
- ↑ Stone, Sam (ngày 14 tháng 4 năm 2020). "Mortal Kombat Legends' Jeremy Adams Explains How Scorpion's Revenge Adapts the Game". Comic Book Resources. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2020.
- ↑ King, Geoff; Krzywinska, Tanya (2002). Screenplay: Cinema/videogames/interfaces. Wallflower Press. tr. 199. ISBN 978-1-903364-23-9.
- ↑ Trev (ngày 14 tháng 5 năm 2011). "MORTAL RIKI-OH!!!". Gameblog (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Bad Movie Night Toronto presents RIKI-OH: THE STORY OF RICKY". BlogTO. Annex Business Media. ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2020.
- 1 2 East, Tom (ngày 7 tháng 1 năm 2008). "Mortal Kombat: Armageddon". Official Nintendo Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2010. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "MKAWii" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - 1 2 "Mortal's Master: Programmer Ed Boon". GamePro. Số 86. IDG. tháng 11 năm 1995. tr. 38–40.
- 1 2 "Ten years ago, "Mortal Monday" brought us controversy, game ratings, and Mortal Kombat". 1UP.com. ngày 13 tháng 9 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "An Oral History of 'Mortal Kombat'". MEL Magazine (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2018.
- 1 2 ARGpodcast (ngày 26 tháng 6 năm 2018). "ARGcast Mini #14: Making Mortal Kombat with John Tobias". RetroZap (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2018.
- ↑ Leone, Matt (ngày 9 tháng 1 năm 2013). "The story behind Total Carnage's confusing ending". Polygon. Vox Media. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013.
- 1 2 3 4 Dominic Allen (ngày 6 tháng 7 năm 2023). "Mortal Kombat: 8 Best Types Of Finishers". TheGamer. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "Mortal Kombat Trilogy". Uk.ign.com. ngày 19 tháng 12 năm 1996. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Carlos Gomis (ngày 20 tháng 8 năm 2019). "Facciones - Mortal Kombat X". Vandal (bằng tiếng Spanish). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Cameron Sherrill (ngày 22 tháng 5 năm 2020). "Exclusive: See Spawn's 'Friendship' Finisher from the Mortal Kombat 11: Aftermath Expansion". Esquire. Hearst Communications. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2025.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "MK vs DC strategy guide" - ↑ Cameron Miller (ngày 24 tháng 9 năm 2022). "10 Best Stage Fatalities From The Mortal Kombat Series". TheGamer. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Fatality - The Mortal Kombat Wiki
- Mortal Kombat Secrets: Finisher Theater Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018 tại Wayback Machine
- SydLexia.com - The MK Fatality Fest