Fukunaga Kosei

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Fukunaga Kosei
福永 嫮生
Hộ Sanh
嫮生
Thông tin chung
Thân phụPhổ Kiệt
Thân mẫuSaga Hiro
Sinh13 tháng 3, 1940 (79 tuổi)
Đông Kinh, Nhật Bản

Fukunaga Kosei (tiếng Nhật: 福永 嫮生, Phúc Vĩnh Hộ Sanh; sinh 1940) là một thành viên nữ trong hoàng tộc nhà Thanh. Tuyên Thống, hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh là bác ruột của bà.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà nguyên tên là Hộ Sanh (tiếng Trung: 嫮生), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1940 tại Tokyo (Nhật Bản), thuộc hoàng tộc Ái Tân Giác La. Bà là con gái thứ hai của Phổ Kiệt, em ruột vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, Phổ Nghi. Mẹ bà là Saga Hiro, thuộc dòng dõi quý tộc có họ hàng xa với Hoàng gia Nhật Bản.[1]

Lưu lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi sinh được vài tháng, tháng 6 năm 1940, bà được cha mẹ đưa về Mãn Châu Quốc, nơi bác ruột của bà đăng cơ Hoàng đế Mãn Châu quốc. Chị ruột của bà, Tuệ Sanh, năm 1943, đã sang Nhật sống với ông bà ngoại.

Tuy nhiên, đến năm 1945, sau khi thất trận trong Thế chiến thứ hai, Đế quốc Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Quân đội Liên Xô tiến vào Mãn Châu, xóa bỏ chính quyền Mãn Châu quốc, vốn là một quốc gia bù nhìn do người Nhật dựng lên. Trong khi cha và bác ruột tìm cách trốn thoát bằng máy bay nhưng bị quân Liên Xô bắt giữ, bà được mẹ cùng với cựu hoàng hậu Uyển Dung đưa đi bằng tàu hỏa để tìm cách đến thuộc địa của Nhật là Triều Tiên. Tuy nhiên, họ đã bị quân Cộng sản Trung Quốc bắt giữ tại Cát Lâm vào tháng 1 năm 1946. Hai mẹ con bà bị di chuyển qua nhiều nơi giam giữ khác nhau cho đến khi được đưa về giam giữ tại Thượng Hải.

Cuộc sống tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1947, mẹ con bà được đưa trả về Nhật. Bà cùng mẹ và chị gái sống cùng ông ngoại là cựu Hầu tước Saga Saneto. Thời gian này, tên bà được gọi theo tiếng Nhật là Aishinkakura Kosei (愛新覺羅•嫮生, Ái Tân Giác La Hộ Sanh). Ban đầu, bà được giáo dục tư nhân, tháng 3 năm 1960, bà đó theo học tại trường Đại học Nữ giới Gakushuin ở Tokyo.

Chị gái của bà, Tuệ Sanh (tên tiếng Nhật là Aishinkakura Eisei), được cho là đã tự sát trên Núi AmagiBán đảo Izu vào cuối năm 1957, vì vậy bà trở thành người con gái duy nhất của cha mẹ. Năm 1961, cha bà được sự cho phép của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đoàn tụ với gia đình. Bà cùng mẹ sang Trung Quốc đoàn tụ với cha sau 16 năm xa cách. Không lâu sau đó, bà quay về Nhật Bản một mình để tiếp tục việc học. Năm 1963, bà lại trở lại Trung Quốc và sống cùng cha mẹ trong một năm, rồi lại trở về Nhật.[2]

Năm 1968, bà kết hôn với Fukunaga Kenji (福永健治, Phúc Vĩnh Kiện Trị) tại Kobe. Gia tộc Fukunaga và Saga vốn là chỗ thâm giao nhiều đời. Cũng từ thời gian này, bà lấy tên mới theo họ chồng là Fukunaga Kosei.

Hiện tại, bà sống cùng với gia đình tại Nishinomiya, Hyōgo. Ông bà có với nhau 5 người con.[3]

  1. Fukunaga Masako (福永 雅子 Phúc Vĩnh Nhã Tử?) (nữ)
  2. Fukunaga Tsuneaki (福永 恒明 Phúc Vĩnh Hằng Minh?) (nam)
  3. Fukunaga Yukiyoshi (福永 行良 Phúc Vĩnh Hành Lương?) (nam)
  4. Fukunaga Hironobu (福永 浩伸 Phúc Vĩnh Hạo Thân?) (nam)
  5. Fukunaga Noriko (福永 典子 Phúc Vĩnh Điển Tử?) (nữ)

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lebra, Above the Clouds pp.213
  2. ^ 木繁, 舩. 皇弟溥傑の昭和史. Japan: Shinchosha. tr. 185. ISBN 4103723017. 
  3. ^ “浜口家(和歌山県)”. 閨閥学 (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • 本岡典子『流転の子―最後の皇女・愛新覚羅嫮生』2011年、中央公論新社、ISBN 9784120042690