Giả Quỳ (Đông Hán)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Giả Quỳ (chữ Hán: 贾逵, 30 – 101), tên tự là Cảnh Bá, người huyện Bình Lăng, quận Phù Phong [1], học giả, bậc đại Nho đời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tổ 9 đời của Quỳ là Giả Nghị, từng được làm Thái phó của Lương Hiếu vương Lưu Vũ thời Hán Văn đế. Ông cụ là Giả Quang, được làm đến Thường Sơn thái thú; thời Hán Tuyên đế, Quang lấy tư cách viên Lại nhận bổng lộc 2000 thạch/năm để dời nhà từ Lạc Dương đến Bình Lăng. Cha là Giả Huy, được Lưu Hâm dạy Tả thị Xuân Thu, kèm thêm Quốc ngữ (国语), Chu quan (tức Chu lễ), còn được Đồ Uẩn dạy Cổ văn Thượng thư (1 phiên bản của kinh Thư), được Tạ Mạn Khanh dạy Mao thi (1 phiên bản của kinh Thi); trước tác Tả thị Điều lệ 21 thiên.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳ được truyền thụ tất cả học vấn của cha, đến khi trưởng thành có thể thuộc làu kinh văn của Tả thị truyện và Ngũ kinh, đi theo học phái Đại Hạ Hầu Thượng thư [2], nhưng vẫn thông thạo thuyết pháp về Cốc Lương (谷梁, 1 phiên bản kinh Xuân Thu) của 5 nhà: Doãn Canh Thủy [3], Lưu Hướng, Chu Khánh, Đinh Tính, Vương Ngạn.

Từ khi còn nhỏ, Quỳ thường ở Thái học (太学), không rành chuyện đời. Quỳ mình dài 8 xích 2 thốn (chừng 189,42 cm), được đặt xước hiệu là Trường Đầu; các nhà Nho nói với nhau rằng: “Giả Trường Đầu hỏi han không nghỉ.” (Vấn sự bất hưu Giả Trường Đầu.) Quỳ tính vui vẻ, giản dị, nhiều mưu trí, khẳng khái lại có tiết tháo.

Thời Minh đế[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳ thông hiểu Tả truyện, Quốc ngữ, trước tác Giải cổ 51 thiên, tức 30 thiên về Tả truyện, 21 thiên về Quốc ngữ; trong niên hiệu Vĩnh Bình, ông dâng sớ hiến sách ấy, được Hán Minh đế xem trọng, chép lại để cất giữ ở Bí thư.

Bấy giờ có chim công (nguyên văn: thần tước) [4] đậu ở quan phủ của cung điện, lông mào có 5 màu rực rỡ, Hán Minh đế lấy làm lạ, hỏi Lâm Ấp hầu Lưu Phục (cháu nội của Lưu Diễn), Phục không trả lời được, bèn tiến cử Quỳ học rộng biết nhiều. Minh đế triệu kiến Quỳ, hỏi ông thì Quỳ đáp: “Xưa Vũ vương hoàn thành sự nghiệp của cha, Nhạc trạc xuất hiện ở Kỳ [5]. Tuyên đế uy phục Nhung Địch, chim công nhiều lần đậu xuống, đây là điềm báo rợ Hồ đầu hàng [6].” Minh đế quay lại Lan Đài [7] lấy bút giấy, sai Quỳ làm bài tụng chim công, bái làm Lang, cho ông được cùng Ban Cố làm Hiệu Bí thư.

Thời Chương đế[sửa | sửa mã nguồn]

Hán Chương Đế nối ngôi, quan tâm Nho thuật, đặc biệt ưa Cổ văn Thượng thư, Tả thị truyện. Năm Kiến Sơ đầu tiên (76), Quỳ nhận chiếu vào giảng ở Bạch Hổ quán thuộc Bắc cung, Vân đài thuộc Nam cung. Chương đế thích lời giảng của Quỳ, sai ông chọn ra những yếu nghĩa thể hiện sự vượt trội của Tả thị truyện so với 2 truyện Công Dương (公羊) và Cốc Lương (谷梁) còn lại [8]. Quỳ trích xuất 30 câu chuyện từ Tả truyện, miêu thuật các mối quan hệ vua tôi, cha con, ví dụ: Sái Trọng, Kỷ Quý, Ngũ Tử Tư, Thúc Thuật,... nhằm khẳng định Tả truyện đề cao trung nghĩa, còn 2 truyện còn lại đề cao quyền biến [9]. Quỳ khẳng định Tả truyện phù hợp với quan điểm coi trọng trung hiếu của Nho giáo, nói rằng Ngũ kinh không nhắc đến, duy nhất Tả truyện có thể chứng mình họ Lưu là hậu duệ của Đế Nghiêu [10]; hơn nữa còn dùng Tả truyện để phản bác Ngũ kinh, nhằm khẳng định thiên mệnh thuộc về nhà Hán: Ngũ kinh đều nói Chuyên Húc thay thế Hoàng Đế, nên Đế Nghiêu không có Hỏa đức [11]. Tả truyện nói Thiếu Hạo thay thế Hoàng đế, như thế Đế Nghiêu mới có Hỏa Đức [12], nhà Hán mới hợp với màu đỏ (xích).

Chương đế đẹp lòng, ban cho ông 500 xúc vải, 1 bộ quần áo, lệnh cho Quỳ chọn 20 người tài cao trong chư sanh thuộc các học phái Công Dương Nghiêm thị học và Công Dương Nhan thị học [13], giao cho họ Tả truyện, nhằm giúp họ đối với kinh – truyện [14] xưa nay đều làu thông.

Mẹ của Quỳ thường có bệnh, Chương đế muốn khen thưởng, mượn cớ ông làm tốt việc hiệu chỉnh thư tịch, đặc cách lấy ra 20 vạn tiền, sai Dĩnh Dương hầu Mã Phòng ban cho ông. Đế nói với Phòng rằng: “Mẹ Giả Quỳ bệnh, ông ấy không ra ngoài, sẽ thiếu thốn giống như con trai nước Cô Trúc (nguyên văn: Cô Trúc chi tử) [15] ở núi Thú Dương đấy.”

Quỳ nhiều lần nói với Chương đế về sự tương ứng giữa cổ huấn [16] trong Cổ văn Thượng thư và Nhĩ nhã của Kinh truyện, vì thế đế giáng chiếu lệnh cho ông biên soạn sự đồng – dị trong việc chú giải cổ văn giữa các sách Âu Dương, Đại/Tiểu Hạ Hầu Thượng thư. Quỳ tập hợp được 3 quyển, Chương đế hài lòng, lại lệnh cho ông soạn sự đồng – dị giữa Tề, Lỗ, Hàn thi và Mao thi [17]; ngoài ra Quỳ còn làm Chu quan giải cố. Sau đó Quỳ được thăng làm Vệ sĩ lệnh [18].

Năm Kiến Sơ thứ 8 (83), triều đình giáng chiếu thư cho Quỳ chọn học trò tài cao, truyền thụ Tả truyện, Cốc Lương truyện, Cổ văn Thượng thư, Mao Thi; do vậy 4 kinh này được lưu truyền ở đời. Bấy giờ đệ tử được chọn và môn sanh của Quỳ đều được bái làm Lang ở vương quốc Thiên Thừa [19]. Quỳ sớm tối dạy học ở Hoàng Môn thự, học trò đều hớn hở đến nghe giảng.

Thời Hòa đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Nguyên thứ 3 (91), Quỳ được làm Tả trung lang tướng. Năm thứ 8 (96), Quỳ được làm Thị trung, lĩnh Kỵ đô úy. Quỳ coi việc phòng bị cung cấm, kiêm lĩnh Bí thư cận thự [20], rất được tín nhiệm. Quỳ tiến cử danh sĩ người Đông Lai là Tư Mã Quân, người nước Trần là Nhữ Úc; Hán Hòa đế lập tức trưng họ, đãi ngộ trọng hậu. Về sau Quân được làm đến Thị trung, Úc được làm đến Lỗ quốc tướng, đều có công tích.

Quỳ trước tác nghĩa cổ và luận nan cho Kinh – Truyện hơn trăm vạn câu, lại sáng tác 9 thiên Thi, Tụng, Lụy, Thư, Liên Châu, Tửu Lệnh, được người có học nhận là tông sư, đời sau khen là Thông Nho [21]. Nhưng Quỳ hay mắc lỗi vặt, bị người ta dựa vào đấy mà chê trách, nên không thể giữ chức vụ quan trọng.

Năm thứ 13 (101), Quỳ mất, hưởng thọ 72 tuổi. Triều đình thương tiếc, trừ hai con trai của Quỳ làm Thái tử xá nhân.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Diệp bàn rằng học thuyết của Trịnh Hưng, Giả Quỳ lưu hành mấy trăm năm, đều là bậc tông sư của Nho giáo, nhưng bản thân họ không được hoàng đế xem trọng, nên sanh thời không có được chức vụ tương xứng. So với những nhà Nho đời Đông Hán, Hoàn Đàm chịu lưu đày, Trịnh Hưng chịu miễn quan, còn Quỳ về cuối đời được giàu sang, nhờ chứng minh nhà Hán là hậu duệ của Đế Nghiêu, chứ không phải sự công nhận dành cho học nghiệp của ông. Thật đáng buồn!

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là Hàm Dương, Thiểm Tây
  2. ^ Đại Hạ Hầu thị Thượng thư (大夏侯氏尚书) là học phái do Hạ Hầu Thắng (夏侯胜) sáng lập, truyền thụ Thượng thư (tức kinh Thư). Hạ Hầu Thắng được gọi là Đại Hạ Hầu hay Đại Hạ Hầu Thắng là để phân biệt với cháu gọi Hạ Hầu Thắng bằng chú họ (tòng phụ tử) là Hạ Hầu Kiến (夏侯建). Hạ Hầu Kiến dung hợp học thuyết về Thượng thư của Hạ Hầu Thắng và Âu Dương Cao (欧阳高), sáng lập nên học phái của riêng mình, được gọi là Tiểu Hạ Hầu hay Tiểu Hạ Hầu Kiến
  3. ^ Doãn Canh Thủy (尹更始) truyền thụ Cốc Lương truyện cho Doãn Hàm (con trai), Trạch Phương Tiến, Hồ Thường,... Hồ Thường truyền thụ cho Đồ Uẩn. Doãn Hàm và Trạch Phương Tiến truyền thụ cho Lưu Hâm. Giả Huy từng là học trò của Đồ Uẩn và Lưu Hâm
  4. ^ Thần (thiên thần) tước (chim sẻ). Lý Hiền chú giải Hậu Hán thư – Phùng Diễn truyện hạ rằng: “Thần tước, nói Phượng đấy.”
  5. ^ Lý Hiền chép: "Nhạc trạc là biệt danh của Phượng.”
  6. ^ Năm 61 TCN, thần tước xuất hiện, Hán Tuyên đế đổi niên hiệu là Thần Tước, đến năm 57 TCN lại đổi là Ngũ Phượng. Năm 51 TCN tức năm Cam Lộ thứ 3, Hô Hàn Da thiền vu vào chầu. Người viết cho rằng lời này của Giả Quỳ rất gượng ép
  7. ^ Đời Chiến Quốc, Lan Đài là tòa lâu đài của nước Sở, bên dưới là đài, bên trên là cung điện. Đời Hán, Lan Đài là thạch thất chứa sách được xây dựng bên trong hoàng cung, cũng là kho lưu trữ thư tịch của triều đình, lấy quan viên đứng đầu là Lan Đài lệnh sử, chịu sự quản lý của Ngự sử Trung thừa. Đời Đường, Bí thư tỉnh có giai đoạn được gọi là Lan Đài
  8. ^ Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện đều được xem là tác phẩm chú giải kinh Xuân Thu, giới học thuật gọi là Xuân Thu tam truyện. Tả truyện xuất hiện sau cùng, được cho là phù hợp hơn với quan điểm về đạo đức của xã hội sùng Nho, ví dụ Đỗ Dự trong lời tự của Xuân Thu kinh truyện tập giải đã chép: “Giản lược 2 truyện mà bỏ đi dị đoan, là chí của Khâu Minh đấy.”
  9. ^ Sái Trọng bị nước Tống uy hiếp, bèn nhận lời phế Trịnh Chiêu công, lập Trịnh Lệ công, về sau lại đuổi Lệ công, đón Chiêu công trở về. Lý Hiền cho biết: Tả truyện chê Sái Trọng phế trưởng lập thứ, khiến nước Trịnh phát sanh nội loạn mà suy yếu. Công Dương truyện khen Sái Trọng là người hiền, vì biết quyền biến để vừa giữ được tánh mạng của Chiêu Công vừa giữ được nước. Kỷ Quý là em của Kỷ hầu, đem đất Hi dâng cho nước Tề, bất chấp giữa 2 nước có thù không đội trời chung. Về sau Tề Tương công diệt nước Kỷ, Kỷ hầu bỏ chạy mà không kịp an táng phu nhân, nên Tương công đã an táng bà ta với nghi lễ phù hợp. Lý Hiền cho biết: Tả truyện chê Kỷ Quý không đồng lòng với anh trai mà còn đầu hàng kẻ thù. Công Dương truyện khen là người hiền, vì chịu khuất phục nên bảo toàn lễ tiết cho chị dâu (lý lẽ này khá gượng ép vì phu nhân của Kỷ hầu vốn là công nữ của nước Lỗ) và giữ được nước Kỷ, dù đã mất độc lập và chỉ còn là nước phụ dung của nước Tề. Ngũ Tử Tư vẫn bỏ trốn dù Sở Bình vương đã hứa sẽ tha chết cho người cha Ngũ Xa nếu anh em Ngũ Thượng, Ngũ Viên chịu về Dĩnh đô. Bình vương giết chết Ngũ Xa và Ngũ Thượng, 10 năm sau Ngũ Tử Tư đưa quân Ngô về chiếm Dĩnh đô, quật mồ Bình Vương để báo thù cho cha và anh. Lý Hiền cho biết: Công Dương truyện cho rằng cha bị giết, con báo thù là lẽ tất nhiên. (Tả truyện không bình luận.) Thúc Thuật là em trai của quốc quân nước ChuChu Vũ công và là quốc quân đầu tiên của nước Lạm – phụ dung của nước Chu. Vũ công bị nước Lỗ dèm chết, thiên tử nhà Chu lập Thúc Thuật làm quốc quân nước Chu. Hơn 10 năm sau, Chu Vũ công được rửa oan, Thúc Thuật nhường ngôi lại cho con trai của Vũ công là Chu Văn công, rồi được Văn công phong đất Lạm. Quốc quân cuối cùng của nước Lạm là Hắc Quăng đầu hàng nước Lỗ. Lý Hiền cho biết: Tả truyện chê Hắc Quăng là hèn hạ, khiến nước Lạm không đáng nhắc đến. Công Dương truyện khen Thúc Thuật là người hiền, cho rằng như thế là đủ để không thể bỏ qua nước Lạm
  10. ^ Lý Hiền dẫn Đại phu Thái Mặc của nước Tấn đời Xuân Thu nói: “Đào Đường thị đã suy, hậu duệ của họ có Lưu Luy (刘累), học nuôi rồng, phụng sự Khổng Giáp, Phạm thị là hậu duệ của ông ấy.” (Đào Đường thị tức là Đế Nghiêu) Lý Hiền lại cho biết Phạm Hội từ Tần về Tấn, người ở chỗ của ông ấy là Lưu thị. Chứng minh nhà Hán kế thừa hậu duệ của Đế Nghiêu
  11. ^ Lý Hiền dẫn Sử ký rằng: “Hoàng Đế băng, cháu nội là con trai của Xương Ý lập, ấy là Đế Chuyên Húc.” Bấy giờ Ngũ kinh đều dùng thuyết này. Như thế Hoàng Đế có Thổ đức, Chuyên Húc phải có Kim đức, Cao Tân phải có Thủy đức và Đế Nghiêu phải có Mộc đức. Nhà Hán là hậu duệ của Đế nghiêu, tự nhiên không có Hỏa đức
  12. ^ Lý Hiền dẫn Tả truyện rằng: “Hoàng Đế thị lấy Vân kỷ (tôtem mây), Thiếu Hạo thị lấy Điểu kỷ (tôtem chim).” Ý nói Thiếu Hạo thay thế Hoàng Đế. Về đế vị của Thiếu Hạo, Lý Hiền dẫn Hà Đồ rằng: “Sao lớn như mống, giáng xuống màu mỡ, Nữ Tiết ý cảm, sanh Bạch đế Chu Tuyên.” Tống Quân (宋均) chú giải: “Chu Tuyên là Thiếu Hạo thị đấy.” (Nữ Tiết là phi tử của Hoàng Đế)
  13. ^ Lý Hiền cho biết Nghiêm Bành Tổ (严彭祖), Nhan An Lạc (颜安乐) đều là tông sư về Công Dương truyện thời Hán Tuyên đế, đã hình thành nên học phái của riêng mình
  14. ^ Kinh (经) là kinh điển của nhà Nho, Truyện (传) là sách chú giải của Kinh
  15. ^ Cô Trúc chi tử chính là Bá Di, Thúc Tề
  16. ^ Cổ huấn (诂训) là chú thích dành cho cổ ngữ có tính cá biệt
  17. ^ Đầu đời Tây Hán, có 3 nhà chú giải kinh Thi: bản của người nước TềViên Cố, gọi Tề Thi; bản của người nước LỗThân Bồi, gọi Lỗ Thi; bản của người nước YênHàn Anh, gọi Hàn Thi. Trung kỳ đời Tây Hán, người nước Triệu là chú cháu Mao Hanh, Mao Trường cũng chú giải kinh Thi, gọi là Mao Thi. Bản của họ Mao là bản duy nhất còn lưu truyền đến ngày nay
  18. ^ Lý Hiền dẫn Tục Hán chí, cho biết nhà Đông Hán có chức Bắc cung Vệ sĩ lệnh, coi Nam, Bắc cung, hưởng trật chừng 600 thạch/năm
  19. ^ Thiên Thừa Trinh vương Lưu Kháng là hoàng tử lớn tuổi nhất của Hán Chương đế
  20. ^ Cận thự nghĩa là cơ quan gần gũi Hoàng đế
  21. ^ Thông Nho (通儒). Lý Hiền dẫn Ứng ThiệuPhong tục thông nghĩa rằng: “Thụ tiên vương chi chế, lập đương thì chi sự, cương kỷ quốc thể, nguyên bổn yếu hóa, thử Thông Nho dã.”