Hạt cà phê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hạt cà phê đã được rang chín
Hạt cà phê
Cà phê thành phẩm từ hạt
Quả hạt cà phê trên cây

Hạt cà phê (tiếng Anh: Coffee bean) là hạt giống của cây cà phê, và là nguyên liệu cho ra thức uống cà phê.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những quả hạch bên trong trái cây màu đỏ hoặc màu tím thường được gọi là một quả mọng. Cũng giống như những quả mọng bình thường. Mặc dù có hình thức là các hạt cà phê, trong tiếng Anh, chúng được gọi là "đậu" (bean) vì sự giống nhau của họ đậu thật sự. Hai giống quan trọng nhất về kinh tế của cây cà phê là hạt cà phê ArabicaRobusta, chiếm 65-70% lượng cà phê được sản xuất trên toàn thế giới là Arabica và 30% là cà phê Robusta, hạt Arabica gồm 0,8-1,4% caffeine và hạt Robusta bao gồm 1,7-4% caffeine.

Các dòng hạt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hạt cà phê Robusta hay còn gọi là cà phê vối thuộc loài thực vật Coffea Canephora Pierre ex A. Froehner. Hạt cà phê Robusta hình bàn cầu tròn và thường là 2 hạt trong 1 trái. Cà phê Robusta có mùi thơm dịu, vị đắng gắt, nước có màu nâu sánh, không chua, hàm lượng cafein vừa đủ đã tạo nên một loại cà phê đặc sắc.
  • Hạt cà phê Arabica còn được gọi là cà phê chè. Hạt cà phê Arabica khi pha cho nước có màu nâu nhạt sánh, mùi vị đắng rất đa dạng từ đắng dịu hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ đến vị đắng lẫn hương thơm nồng nàn, đặc biệt có vị hơi chua rất lôi cuốn.
  • Hạt cà phê Cherry hay còn gọi là cà phê mít có vị rất chua, nó mang một đặc điểm và hương vị rất khác lạ. Hạt cà phê vàng, sáng bóng rất đẹp. Khi pha tạo ra mùi thơm thoang thoảng, đặc biệt là vị chua của cherry tạo ra một cảm giác sảng khoái với sự hòa quyện giữa mùi và vị tạo ra một cảm giác dân dã, cao sang quý phái hòa quyện nhau
  • Hạt cà phê Culi là những hạt cà phê no tròn, trong một trái chỉ có duy nhất một hạt. Vị đắng gắt, hương thơm, hàm lượng cafein cao, nước màu đen sánh.
  • Hạt cà phê Robusta–Arabica là dòng sản phẩm dựa trên sự kết hợp của Robusta và Arabica tạo ra một loại cà phê riêng biệt, nước màu nâu đậm đặc, là sự kết hợp vị đắng gắt của Robusta và hương thơm đậm đà của Arabica. Tạo nên một cảm giác thư giãn thật thoải mái.
  • Hạt cà phê Robusta–Cherry: Là sự hòa quyện giữa đắng gắt của Robusta và vị chua của Cherry tạo cảm giác ngất ngây và say đắm. Nước sánh đậm, vị đắng gắt và chua pha lẫn vào nhau tạo nên một loại thức uống.
  • Hạt cà phê Robusta – Culi: Tạo nên sự đậm đà hơn nữa trong màu sắc cũng như tăng cường vị đắng gắt của Robusta, giành riêng cho những người sành cà phê và thích cảm giác mạnh. Hạt cà phê Robusta Culi có vị đắng gắt, hương thơm nhẹ, hàm lượng cafein tương đối cao, nước màu nâu sánh. Tạo cảm giác sảng khoái, năng động hơn.
  • Dòng tổng hợp của cà phê hòa tan Vinacafé: Theo quảng cáo thì sản phẩm cà phê hòa tan của Vinacafé là sự tổng hợp của 08 loại hạt Được tuyển chọn từ hạt cà phê của 8 vùng đặc sản ở Việt Nam gồm: Buôn Mê Thuột, Cầu Đất, Đăk Hà, Đăk Mil, Khe Sanh, Chiềng Ban, Long Khánh, Chư Sê. Tuy nhiên, trong 8 vùng chỉ dẫn địa lý hay 8 địa danh mà Vinacafe khẳng định là 8 vùng địa lý có cà phê đặc ngon nhất nhưng chỉ có duy nhất Buôn Mê Thuột đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý với sản phẩm cà phê còn Chư Sê đăng ký hồ tiêu, Long Khánh là cao su và các sản phẩm công nghiệp[1].

Chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quả cà phê chín, người ta bắt đầu thu hái và lựa chọn những quả chín có màu đỏ anh đào. Việc chọn lọc này thường được gọi với cái tên là "operation cherry red" (OCR). Ngoài ra, trong một số trường hợp thì cầy hương châu Á sẽ lựa chọn và ăn những quả cà phê chín sau đó bài tiết ra hạt cà phê. Những hạt cà phê này được gọi là cà phê chồn, chúng khá hiếm và sau khi xử lý, chế biến sẽ mang lại giá trị cực kì cao.

Hai phương pháp chủ yếu được sử dụng để chế biến quả cà phê là chế biến "ướt" và chế biến "khô":

  • Cách chế biến "ướt" được thực hiện phổ biến ở Trung Mỹ và các khu vực của Châu Phi. Thịt của quả cà phê chín sẽ được tách ra khỏi hạt và sau đó hạt được lên men, ngâm trong nước khoảng hai ngày. Điều này làm mềm chất nhầy và một dư lượng thịt trái cà phê vẫn còn dính trên hạt. Sau đó chất nhầy này được rửa sạch bằng nước.
  • Phương pháp "chế biến khô", rẻ hơn và đơn giản hơn, trước đây được sử dụng cho các loại cà phê chất lượng thấp hơn ở Brazil và phần lớn châu Phi. Hạt cà phê chín được thu hái sau đó trải mỏng và phơi dưới ánh mặt trời trên bê tông, gạch hoặc các giàn phơi trong khoảng từ 2 đến 3 tuần. Trong quá trình phơi, hạt cà phê được đảo đều nhiều lần đến khi khô và được bóc tách vỏ bằng máy chuyên dụng ở bước cuối cùng. Hiện nay, phương pháp này được sử dụng nhiều vì nó cho ra đời hạt cà phê ngọt và thơm hơn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Klos, Beth (2009-11-09). "The Coffee Bean - Not a Fiend". Brigham and Women's Hospital. Truy cập 2009-11-11.
  • Finck, Charlene (2006-07-29). "Groundwork for Rust". Farm Journal. Truy cập 2009-11-11.[dead link]
  • Soin, Eija (September 2005). "Land use change patterns and livelihood dynamics on the slopes of Mt. Kilimanjaro, Tanzania". Agricultural Systems 85 (3): 306–323. doi:10.1016/j.agsy.2005.06.013.
  • Sevey, Glenn C. (1907). Bean Culture: A Practical Treatise on the Production and Marketing of Beans. Orange Judd Company. ASIN B000863SS2.
  • Clifford, MN, and Kazi, M (1987). "The influence of coffee bean maturity on the content of chlorogenic acids, caffeine, and trigonelline". Food Chemistry 26: 59–69. doi:10.1016/0308-8146(87)90167-1.
  • WEIDNER, M, and MAIER, HG; 1999, Seltene Purinalkaloide in Roestkaffee, Lebensmittelchemie, Vol 53, 3, p. 58
  • POISSON, J, 1979, Aspects chimiques et biologiquesde la composition du café vert; 8th International Colloquium Chemicum Coffee, Abidjan, 28. Nov to 3. December 1988, published by ASIC 1979, p 33-37; http://www.asic-cafe.org
  • Wu X, Skog K, Jägerstad M (July 1997). "Trigonelline, a naturally occurring constituent of green coffee beans behind the mutagenic activity of roasted coffee?". Mutat. Res. 391 (3): 171–7. doi:10.1016/s1383-5718(97)00065-x. PMID 9268042.
  • "Revista Brasileira de Fisiologia Vegetal - Seed storage proteins in coffee". Scielo.br. Truy cập 2013-12-08.
  • Montavon P, Duruz E, Rumo G, Pratz G (April 2003). "Evolution of green coffee protein profiles with maturation and relationship to coffee cup quality". J. Agric. Food Chem. 51 (8): 2328–34. doi:10.1021/jf020831j. PMID 12670177.
  • Arnold, U.; Ludwig, E.; Kühn, R.; Möschwitzer, U. (1994). "Analysis of free amino acids in green coffee beans". Zeitschrift für Lebensmittel-Untersuchung und -Forschung 199 (1): 22–5. doi:10.1007/BF01192946. PMID 8067059.


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]