Họ Cá chai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Họ Cá chai
MaKC.jpg
Platycephalus fuscus 1.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Nhánh Actinopteri
Phân lớp (subclass)Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)Teleostei
Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Eupercaria
Bộ (ordo)Perciformes
Phân bộ (subordo)incertae sedis
Họ (familia)Platycephalidae
T. N. Gill, 1872
Các chi[1]

Họ Cá chai (Danh pháp khoa học: Platycephalidae) là một họ cá biển theo truyền thống xếp trong bộ Cá mù làn (Scorpaeniformes)[1], nhưng các kết quả phân tích phát sinh chủng loài của Betancur và ctv đã xếp họ này sang bộ Cá vược (Perciformes) nghĩa mới[2][3]. Nhiều loài có nguồn gốc bản địa của các vùng nước duyên hải từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương. Một số loài phân bố ở phía Đông Địa Trung Hải do di cư từ Biển Đỏ qua kênh đào Suez.

Cá chai dusky là thành viên lớn nhất của họ cá chai Platycephalidae, có hơn 30 loài, ít nhất 14 loài được bắt bởi những tay câu từ trước tới nay. Đa số các loài cá chai thông thường có thể phân biệt và nhận dạng bằng cách xem xét màu sắc và các dấu hiệu khác ở đuôi và vây đuôi. Cá chai dusky cũng được gọi là cá chai cửa sông hay cá chai bùn. Có hơn 40 loài cá chai được phát hiện ở Úc. Đây là các loài có giá trị kinh tế.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá chai có đặc điểm là thân dài; đầu tròn, bẹt và rộng; miệng lớn và răng nhỏ mịn. Một bộ gai nhọn được phủ bởi một lớp nhớt có độc nhẹ nằm trên nắp mang. Màu sắc ngụy trang của cá chai cực kỳ đa dạng, từ màu trắng cát sáng hay vàng nâu tới những sọc tối hơn hay những chấm đỏ, đen và xanh, tới màu đỏ gạch hay đen. Bụng của cá chai hầu như có màu kem, vàng kem hay trắng. Cá chai được phát hiện ở các cửa sông cạn hay hồ và nơi sống của nó có thể tới những nhánh sông chịu ảnh hưởng của thủy triều, thỉnh thoảng cũng có phát hiện ở vùng nước ngọt. Cá chai cũng được phát hiện ở ngoài khơi nơi có đáy cát hay sỏi và cỏ biển. Phân bố của chúng từ vùng thủy triều ra tới độ sâu 10 mét.

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Họ này gồm 80 loài, phân chia trong 18 chi như sau:

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cá chai thuộc loại cá ít vận động, chúng vùi một phần trong đáy cát hoặc bùn và chờ đợi con mồi lọt vào mục tiêu gần, mặc dù thỉnh thoảng chúng cũng ăn dưới đáy. Thức ăn của chúng gồm cá nhỏ, cua, tôm và giáp xác nhỏ khác, bạch tuộc, mực ống, giun biển. Cá chai có thể sống tối đa 9 năm, kích thước tối đa từ 46 đến 120 cm tính theo chiều dài đuôi. Trọng lượng từ 3- 15 ký.

Cá chai cũng là cá thể thao nổi tiếng. Cá chai có thể được câu nhiều cách. Nhiều cá chai được câu bằng câu đáy hay dùng mồi nhử với cá nhỏ, sống hay chết, gồm cá đối, cá trích, cá mòi, cá cơm lớn hay những miếng thịt cá đối, cá ngừ, cá cam, tôm, giáp xác … Khi dùng mồi chết, cách hiệu quả là kéo mồi chầm chậm dưới đáy, hoặc lợi dụng thủy triều hoặc dòng nước để giữ tàu và cần chuyển động. Cá chai cũng được câu bằng các loại mồi giả. Nên theo dõi dây câu vì chúng có miệng miệng mạnh và sắc. Mồi nhỏ và sống là tốt nhất. Câu cá ở mép cát và đặc biệt là bên các bờ kênh nhỏ ở các hồ nước mặn thường có cá lớn.

Đánh bắt cá chai thương mại là ngành cá quan trọng ở NSW, Úc, đa số đánh bắt vào cuối thu tới đầu xuân, và chủ yếu dùng lưới cản. Trên thế giới, cá chai có ở nhiều nơi, và hiện nay cũng được nuôi, chủ yếu là Nhật Bản. Ở Việt Nam, cá chai có ở vịnh Bắc Bộ, Miền Trung, Nam Bộ; kích cỡ thường từ 300 – 500 mm, khai thác quanh năm bằng lưới kéo đáy và chủ yếu ăn tươi. Một số cũng được làm khô xuất khẩu nhưng số lượng không lớn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2014). "Platycephalidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2014.
  2. ^ Ricardo Betancur-R., Richard E. Broughton, Edward O. Wiley, Kent Carpenter, J. Andrés López, Chenhong Li, Nancy I. Holcroft, Dahiana Arcila, Millicent Sanciangco, James C Cureton II, Feifei Zhang, Thaddaeus Buser, Matthew A. Campbell, Jesus A Ballesteros, Adela Roa-Varon, Stuart Willis, W. Calvin Borden, Thaine Rowley, Paulette C. Reneau, Daniel J. Hough, Guoqing Lu, Terry Grande, Gloria Arratia, Guillermo Ortí, 2013, The Tree of Life and a New Classification of Bony Fishes, PLOS Currents Tree of Life. 18-04-2013. Ấn bản 1, doi:10.1371/currents.tol.53ba26640df0ccaee75bb165c8c26288.
  3. ^ Betancur-R R., E. Wiley, N. Bailly, M. Miya, G. Lecointre, G. Ortí. 2014. Phylogenetic Classification of Bony Fishes – Phiên bản 3, 30-7-2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]