Hồ Than Thở

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một phần cảnh quan hồ Than Thở

Hồ Than Thở là một hồ nước tự nhiên thuộc thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) và cũng là một địa điểm du lịch của thành phố này.

Tạp chí Indochine (Đông Dương) số 28 ra ngày 13 tháng 3 năm 1941 chọn ảnh hồ Than Thở làm ảnh bìa.

Vị trí, địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Than Thở nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 6 km về phía đông, theo trục đường Quang Trung - Hồ Xuân Hương, nằm gần trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (nay là Học viện Lục quân), và gắn liền với một thời hoàng kim của trường vào thập niên 1950 đầu thập niên 1960. Cứ ngày nghỉ, lễ, chủ nhật là gia đình của các học viên và người yêu kéo đến gặp nhau vui chơi ở đây[1]. Hồ nằm trên đồi cao giữa một rừng thông, không gian hoang vắng tĩnh mịch, cạnh thắng cảnh Đồi thông hai mộ với truyền thuyết về mối tình tan vỡ[2]. Mặt nước hồ luôn trong xanh phẳng lặng. Phía bắc của hồ có một đôi cây thông quấn quýt rất lạ như đôi tình nhân bên nhau không rời[1].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Than Thở tại một góc nhìn khác

Trước đây vùng hồ Than Thở có một cái ao gọi là Tơnô Pang Đòng. Vào năm 1917, người Pháp đắp đập, xây dựng hồ chứa nước cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt hình thành nên hồ rộng như ngày nay, đặt tên hồ là Lac des Soupirs với nghĩa thứ hai (tiếng rì rào), nhưng khi dịch sang tiếng Việt lại dịch theo nghĩa thứ nhất (than thở).

Theo ông Hiền Trưởng phòng tư liệu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Lạt thì dựa trên đề xuất của ông Nguyễn Vĩ, chủ tịch Hội đồng thị xã Đà Lạt lúc bây giờ, nên hồ được đổi từ tên Pháp ra tên Việt thành hồ Than Thở[3]. Sự kiện đổi tên này diễn ra năm 1956[4]. Từ năm 1975 hồ Than Thở được đổi tên thành hồ Sương Mai, nhưng người dân Đà Lạt mỗi khi nhắc đến hồ đều gọi là hồ Than Thở nên sau đó hồ được khôi phục lại tên cũ[3] vào năm 1990[4].

Trong thập niên 1980-1990 rừng thông cổ thụ quanh hồ bị tàn phá. Những cây thông non tuy được trồng lại nhưng làm mất nét thâm u cô tịch xưa. Lòng hồ bị bồi lắng, thu hẹp vì các hoạt động nông nghiệp vùng thượng lưu khiến nước hồ không còn xanh như trước.

Năm 1997 giới chức địa phương cho phép Công ty Du lịch Thùy Dương, một doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh bỏ vốn trồng rừng, nạo vét hồ, chống bồi lắng, và xây dựng các khu vui chơi giải trí nhằm bảo toàn thắng cảnh này.

Năm 1999, hồ được nhà nước công nhận là danh thắng cấp quốc gia[5].

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết kể rằng nơi đây gắn với câu chuyện tình của Hoàng Tùng và Mai Nương. Chuyện xảy ra vào thế kỷ 18, khi người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ dấy binh đánh đuổi bọn xâm lược nhà Thanh, trai tráng khắp nơi hưởng ứng, trong đó có Hoàng Tùng. Trước khi chia tay, hai người rủ nhau ra bên bờ than thở hẹn thề. Chàng hẹn đến mùa xuân - khi hoa mai anh đào nở sẽ đem tin thắng trận trở về. Ở nhà, Mai Nương được tin Hoàng Tùng tử trận nên nàng đã quyết định gieo mình bên dòng suối tự trầm. Nhưng trớ trêu thay, đến giữa mùa xuân Hoàng Tùng thắng trận trở về, chàng vô cùng đau buồn khi biết người yêu đã chết. Cảnh cũ còn đây nhưng người yêu đã mất, chàng đau khổ đến tận cùng nên gieo mình xuống hồ nước chết theo nàng Mai Nương để minh chứng cho lòng chung thủy sắt son. Cảm thương đôi trai gái bạc mệnh, rừng thông rì rầm khúc nhạc bi ai. Từ đó hồ có tên là Than Thở cho đến ngày nay.

Đến thăm hồ Than Thở, du khách sẽ được nghe kể về những chuyện tình cảm động đã mượn nước hồ để giữ mãi mối tình chung thủy này[1].

Hồ Than Thở trong thơ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lạt có thác Cam Ly
Có hồ Than Thở người đi sao đành[1]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Hồ Than Thở”. 
  2. ^ Theo 'Địa chí Lâm Đồng, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, H. 2001, Tr.426-429.
  3. ^ a ă Bí ẩn chuyện tình đẹp và những oan hồn ở đồi thông hai mộ
  4. ^ a ă Địa chí Lâm Đồng, đã dẫn
  5. ^ Địa chí Lâm Đồng, đã dẫn.

Tọa độ: 11°57′21,58″B 108°28′41,17″Đ / 11.95000°B 108.46667°Đ / 11.95000; 108.46667