HMS Active (H14)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HMS Active (H14).jpg
Tàu khu trục
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Active
Hãng đóng tàu: Hawthorn Leslie & Company, Hebburn
Đặt lườn: 10 tháng 7 năm 1928
Hạ thủy: 9 tháng 7 năm 1929
Nhập biên chế: 9 tháng 2 năm 1930
Xuất biên chế: 1947
Số phận: Bán để tháo dỡ
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục A
Trọng tải choán nước: 1.350 tấn Anh (1.370 t) (tiêu chuẩn);
1.773 tấn Anh (1.801 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98 m)
Sườn ngang: 32 ft (9,8 m)
Mớn nước: 12,2 ft (3,7 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số;
3 × nồi hơi Thornycroft;
2 × trục;
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 35 hải lý một giờ (65 km/h)
Tầm xa: 4.080 nmi (7.560 km; 4.700 mi) ở tốc độ 15 kn (28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
138
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7 in (120 mm) Mark IX trên bệ CP Mark XIII;
2 × pháo QF 2-pounder (40-mm) Mark II "pom-pom" phòng không;
8 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mark IX (2×4)

HMS Active (H14) là một tàu khu trục lớp A của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc. Nó đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, tham gia đánh chìm bốn tàu ngầm đối phương. Active bị bán để tháo dỡ vào năm 1947.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là chiếc tàu chiến thứ mười của Hải quân Hoàng gia mang cái tên HMS Active, nó được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Hawthorn Leslie & CompanyHebburn, Newcastle upon Tyne vào ngày 10 tháng 7 năm 1928, được hạ thủy vào ngày 9 tháng 7 năm 1929 và đưa ra hoạt động vào ngày 9 tháng 2 năm 1930 trong thành phần Chi hạm đội Khu trục 3 thuộc Hạm đội Địa Trung Hải.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, Active gia nhập Chi hạm đội 13 đặt căn cứ tại Gibralta; và sau đó gia nhập Lực lượng H, nên đã tham gia Chiến dịch Catapult đối đầu với Hạm đội Pháp tại Mers el Kebir. Sang tháng 5 năm 1941, chiếc tàu khu trục tham gia truy tìm thiết giáp hạm Đức Bismarck. Trong năm 1942, nó tham gia Chiến dịch Ironclad, cuộc đổ bộ lên Madagascar, nơi mà vào ngày 8 tháng 5, nó đã đánh chìm tàu ngầm Pháp Monge. Sau đó, trong khi đặt căn cứ tại Cape Town vào ngày 8 tháng 10, nó đã đánh chìm tàu ngầm Đức U-179 lúc nó đang trên đường đi Penang.

Trong thời gian còn lại của chiến tranh, con tàu hoạt động trong vai trò hộ tống, chủ yếu giữa Anh và Sierra Leone sau khi được nâng cấp vũ khí phòng không và chống tàu ngầm. Vào ngày 23 tháng 5 năm 1943, Active cùng với Ness đánh chìm tàu ngầm Ý Leonardo da Vinci về phía Tây mũi Finisterre, và vào ngày 2 tháng 11 năm 1943 đến lượt tàu ngầm Đức U-340 gần Tangier bị tiêu diệt.

Sau chiến tranh, vào tháng 5 năm 1947, Active được cho ngừng hoạt động và bị bán để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War Two. London: Arms and Armour Press. ISBN 0-85368-910-5. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]