HMS Boreas (H77)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HMS Boreas
Tàu khu trục HMS Boreas
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Boreas
Đặt tên theo: Boreas
Đặt hàng: 22 tháng 3 năm 1929
Hãng đóng tàu: Palmers, Jarrow
Kinh phí: 221.156 Bảng Anh
Đặt lườn: 22 tháng 7 năm 1929
Hạ thủy: 11 tháng 6 năm 1930
Hoàn thành: 20 tháng 2 năm 1931
Số phận: Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp, 11 tháng 2 năm 1944
Phục vụ (Hy Lạp)
Tên gọi: Salamis
Đặt tên theo: Salamis
Trưng dụng: 11 tháng 2 năm 1944
Nhập biên chế: 25 tháng 3 năm 1944
Xuất biên chế: 10 tháng 5 năm 1951
Số phận: Trả cho Hải quân Anh, 10 tháng 5 năm 1951
Bán để tháo dỡ, 23 tháng 11 năm 1951
Đặc điểm khái quát Nguồn: Whitley[1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục B
Trọng tải choán nước: 1.360 tấn Anh (1.380 t) (tiêu chuẩn)
1.790 tấn Anh (1.820 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98 m) (chung)
Sườn ngang: 32,25 ft (9,83 m)
Mớn nước: 12,25 ft (3,73 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
3 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 35,25 hải lý một giờ (65,28 km/h)
Tầm xa: 4.800 nmi (8.890 km; 5.520 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
138
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Sonar ASDIC Kiểu 119
Vũ trang: 4 × pháo QF 4 in (100 mm) Mk. IX L/45 trên bệ Mk.XIV (4×1)
2 × pháo QF 2 pounder Mk.II L/39 (40 mm) phòng không trên bệ Mk.II (2×1)
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4)
25 × mìn sâu

HMS Boreas là một tàu khu trục thuộc lớp B được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào năm 1930 và đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp vào năm 1944 dưới tên gọi HHMS Salamis. Nó được hoàn trả cho Hải quân Anh và bị tháo dỡ vào năm 1951.[2]

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Boreas được đặt hàng vào ngày 22 tháng 3 năm 1929 tại xưởng tàu của hãng PalmersJarrow, trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo Hải quân 1928. Nó được đặt lườn vào ngày 22 tháng 7 năm 1929, hạ thủy vào ngày 11 tháng 6 năm 1930[3] như là chiếc tàu chiến thứ năm của Hải quân Hoàng gia mang cái tên này,[4] và hoàn tất vào ngày 20 tháng 2 năm 1931[5] với chi phí 221.156 Bảng Anh, không tính đến các thiết bị do Bộ Hải quân Anh cung cấp như pháo, đạn dược và thiết bị liên lạc.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War Two. Cassell Publishing. ISBN 1-85409-521-8. 
  2. ^ a ă “HMS Boreas, destroyer”. naval-history.net. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ English 1993, tr. 29–30
  4. ^ Colledge 1969, tr. 33
  5. ^ English 1993, tr. 30
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475. 
  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • March, Edgar J. (1966). British Destroyers: A History of Development, 1892-1953; Drawn by Admiralty Permission From Official Records & Returns, Ships' Covers & Building Plans. London: Seeley Service. OCLC 164893555. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1.