HMS Brilliant (H84)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tàu khu trục HMS Brilliant
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Brilliant
Hãng đóng tàu: Swan Hunter, Tyne and Wear
Hạ thủy: 09 tháng 10 năm 1930
Hoàn thành: 21 tháng 2 năm 1931
Xuất biên chế: tháng 11 năm 1945
Số phận: Bán để tháo dỡ, 21 tháng 2 năm 1948
Đặc điểm khái quát Nguồn: Whitley[1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục B
Trọng tải choán nước: 1.360 tấn Anh (1.380 t) (tiêu chuẩn)
1.790 tấn Anh (1.820 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98 m) (chung)
Sườn ngang: 32,25 ft (9,83 m)
Mớn nước: 12,25 ft (3,73 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
3 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 35,25 hải lý một giờ (65,28 km/h)
Tầm xa: 4.800 nmi (8.890 km; 5.520 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
138
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Sonar ASDIC Kiểu 119
Vũ trang: 4 × pháo QF 4 in (100 mm) Mk. IX L/45 trên bệ Mk.XIV (4×1)
2 × pháo QF 2 pounder Mk.II L/39 (40 mm) phòng không trên bệ Mk.II (2×1)
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4)
25 × mìn sâu

HMS Brilliant là một tàu khu trục thuộc lớp B được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào năm 1930 và đã hoạt động trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó ngừng hoạt động năm 1945 và bị tháo dỡ năm 1947.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Brilliant được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Swan HunterTyne and Wear, được hạ thủy vào ngày 09 tháng 10 năm 1930 và hoàn tất vào ngày 21 tháng 2 năm 1931.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1931 đến năm 1938, Brilliant phục vụ tại Địa Trung Hải. Khi chiến tranh nổ ra, nó được bố trí cùng Chi hạm đội Khu trục 13 đặt căn cứ tại Dover, tham gia bảo vệ các đoàn tàu vận tải trong eo biển Anh Quốc và hộ tống các hoạt động rải mìn. Vào ngày 10 tháng 5 năm 1940, nó tham gia Chiến dịch XD phá hủy các cơ sở cảng Hà Lan và triệt thoái binh lính Đồng Minh. Vào ngày 15 tháng 5, nó va chạm với chiếc Boreas trên đường đi Hook of Holland. Sau khi được sửa chữa, nó lại bị hư hại do bị máy bay ném bom bổ nhào đối phương tấn công vào ngày 25 tháng 7, phải quay về cảng sau khi phóng bỏ các khẩu pháo phía đuôi.

Vào tháng 5 năm 1941, Brilliant tham gia Chiến dịch Splice chuyển giao máy bay tiêm kích đến Malta. Từ đây, nó hợp cùng chiếc HMS London săn đuổi các tàu tiếp liệu Đức trong Đại Tây Dương. Chúng đã ngăn chặn được Esso HamburgEgerland, cả hai đều bị thủy thủ đoàn tự đánh đắm. Hoạt động từ Freetown, Brilliant đã vớt được 321 người sống sót từ các xuồng cứu sinh của chiếc HMT Oronsay vốn bị trúng ngư lôi từ một tàu ngầm Ý vào ngày 9 tháng 10 năm 1942.[2] Sau đó, nó gia nhập Lực lượng H trong Chiến dịch Torch, cuộc đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên Bắc Phi. Brilliant đã đánh chìm chiếc tàu quét mìn Surprise của phe Vichy Pháp ngoài khơi Oran vào ngày 8 tháng 11.[3]

Sau khi được cải biến cho nhiệm vụ chống chống tàu ngầm, nó gia nhập Chi hạm đội Khu trục 13 tại Gibraltar vào tháng 7 năm 1943. Vào ngày 24 tháng 12 năm 1944, Brilliant đang hộ tống cho Leopoldville khi chiếc tàu chở quân trúng ngư lôi từ tàu ngầm Đức U-486 ở cách 5,5 hải lý (10,2 km) ngoài khơi Cherbourg. Brilliant đã cứu vớt được khoảng 500 người từ chiếc tàu chở quân bị hư hại khi nó thả neo, nhưng do nhiều trục trặc trong thông tin liên lạc, không có tàu nào khác kịp đến ứng cứu trước khi Leopoldville chìm, khiến 764 người thiệt mạng.[4] Ngày 7 tháng 6 năm 1945, Brilliant đã hộ tống cho Vua George VI trên chiếc Jamaica khi ông viếng thăm quần đảo Channel, rồi sau đó hộ tống những tàu ngầm U-boat đầu hàng đi đến Scotland trong Chiến dịch Deadlight trước khi được đưa về lực lượng dự bị vào tháng 11 năm 1945.[5]

Brilliant bị bán để tháo dỡ vào ngày 21 tháng 2 năm 1948; và được tháo dỡ bởi hãng West of Scotland Shipbreakers vào tháng 4 năm 1948.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War Two. Cassell Publishing. ISBN 1-85409-521-8. 
  2. ^ “Ship Descriptions (O)”. theshipslist.com. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ “La Surprise of the French Navy”. uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “The Sinking of SS Leopoldville. uboat.net. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “HMS Brilliant, destroyer”. naval-history.net. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475. 
  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • Lenton, H. T. (1998). British & Commonwealth Warships of the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-048-7. 
  • March, Edgar J. (1966). British Destroyers: A History of Development, 1892-1953; Drawn by Admiralty Permission From Official Records & Returns, Ships' Covers & Building Plans. London: Seeley Service. OCLC 164893555. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1.