HMS Venerable (R63)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HMS Venerable (R63).jpg
Tàu sân bay HMS Venerable (R63)
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Hãng đóng tàu: Cammell LairdBirkenhead
Đặt lườn: 3 tháng 12 năm 1942
Hạ thủy: tháng 12 năm 1943
Hoạt động: 17 tháng 1 năm 1945[1]
Ngừng hoạt động: 30 tháng 3 năm 1947
Số phận: Bán cho Hà Lan
Phục vụ (Hà Lan) Hà Lan
Tên gọi: HNLMS Karel Doorman (R81)
Trưng dụng: 28 tháng 5 năm 1948
Ngừng hoạt động: 26 tháng 4 năm 1968
Số phận: Bán cho Argentina
Phục vụ (Argentina) Argentina
Tên gọi: ARA Veinticinco de Mayo (V-2)
Trưng dụng: 12 tháng 3 năm 1969
Ngừng hoạt động: 1997
Số phận: Bị tháo dỡ năm 2000
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Colossus
Trọng tải choán nước: 13.600 tấn [2]
Độ dài: 212 m (695 ft 6 in)[2]
Sườn ngang: 24,4 m (80 ft)[2]
Mớn nước: 7,2 m (23 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số hơi nước Parsons
4 × nồi hơi Admiralty
2 × trục
công suất: 40.000 mã lực (29,8 MW)
Tốc độ: 46 km/h (25 knot)[2]
Tầm xa: 22.000 km (12.000 hải lý) ở tốc độ 26 km/h (14 knot) [3]
Thủy thủ đoàn: 1.300
Máy bay mang theo: 48

HMS Venerable (R63) là một tàu sân bay thuộc lớp Colossus của Hải quân Hoàng gia Anh. Được hoàn thành và đưa ra hoạt động khi Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp kết thúc, HMS Venerable chỉ hoạt động trong những tháng sau cùng của cuộc chiến này. Năm 1948 nó được bán cho Hà Lan dưới tên gọi HNLMS Karel Doorman (R81); và từ năm 1969, nó lại được bán cho Argentina và đặt lại tên là ARA Veinticinco de Mayo. Nó được cho ngưng hoạt động vào năm 1997, và bị tháo dỡ vào năm 2000.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Venerable được đặt lườn vào ngày 3 tháng 12 năm 1942 bởi hãng đóng tàu Cammell Laird tại Birkenhead, được hạ thủy chỉ hơn một năm sau đó, và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 17 tháng 1 năm 1945.[1].

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Hoàng gia Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như những chiếc khác trong lớp Colossus được hoàn thành trước khi kết thúc chiến tranh, HMS Venerable được gửi ngay đến Viễn Đông để gia nhập Hải đội Tàu sân bay 11 (bao gồm những chiếc Colossus, GloryVengeance) thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Mỗi chiếc mang theo khoảng 40 máy bay tiêm kích F4U Corsairmáy bay ném bom-ngư lôi Fairey Barracuda.

Sau khi chiến tranh kết thúc, HMS Venerable đã đưa hồi hương những tù binh chiến tranh về CanadaAustralia trước khi quay trở về Anh.

Hải quân Hoàng gia Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1948 nó được bán cho Hà Lan và đặt lại tên là HNLMS Karel Doorman (R81), và từng tham gia cuộc xung đột quân sự năm 1962 tại Tây New Guinea (ngày nay là Papua và Papua Barat, thuộc Indonesia).

Hải quân Argentina[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1969, sau một tai nạn cháy trong phòng nồi hơi, Karel Doorman được bán cho Argentina và đặt lại tên là ARA Veinticinco de Mayo. Nó từng tham gia cuộc Chiến tranh Falklands.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Beaver, Paul (1987) Encyclopedia of the Fleet Air Arm since 1945, Wellingborough, Northants: Patrick Stephens, ISBN 0-85059-760-9
  2. ^ a ă â b Ireland, Bernard (2007). Aircraft Carriers of the World. Southwater. tr. 125. ISBN 9781844763634. 
  3. ^ “French Navy - Arromanches”. Damien Allard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2002. Truy cập 12 tháng 5 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]