Hoài Thanh (xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hoài Thanh, Hoài Nhơn)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hoài Thanh

Hành chính
TỉnhBình Định
HuyệnHoài Nhơn
Địa lý
Dân số
Khác

Hoài Thanh là một xã đồng bằng ven biển nằm ở phía đông thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Cách trung tâm Hoài Nhơn 10 km về phía tây.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý của xã Hoài Thanh:

  • phía bắc giáp với xã Tam Quan Nam và xã Hoài Thanh Tây.
  • phía nam giáp với phường Hoài Tân và xã Hoài Xuân.
  • phía tây giáp với phường Hoài Tân và xã Hoài Thanh Tây.
  • phía đông giáp với xã Hoài Hương và biển Đông.

Vị trí địa lý đã tạo ra những mặt thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán giữa các xã phía đông của huyện như: Hoài Hương, Tam Quan Nam, Tam Quan và một phần phường Tam Quan Bắc. Hơn nữa có tuyến đường Tỉnh lộ DT 639 từ Quy Nhơn – Nhơn Hội – Tam Quan chạy qua địa bàn xã thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, giao lưu với các xã lân cận một cách nhanh chóng, thuận lợi. Bên cạnh những mặt thuận lợi thì xã cũng gặp không ít những khó khăn cơ bản là do địa bàn xã nằm ở cuối nguồn nước của thị xã (sông Lại Giang khó khăn cho việc cung cấp nước nông nghiệp vào mùa khô, còn về mùa mưa thì ngập úng, sa bồi thủy phá)

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.558,00 ha, chiếm 3,77% Tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã Hoài Nhơn. Trong đó:

  • Đất nông nghiệp: 1.313,81 ha.
  • Đất phi nông nghiệp: 213,29 ha.
  • Đất chưa sử dụng: 30,90 ha.

Toàn xã có 10 thôn là An Dinh I, An Dinh II, An Lộc I, An Lộc II, Mỹ An I, Mỹ An II, Trường An I, Trường An II, Lâm Trúc I, Lâm Trúc II. Trong đó có 02 thôn ven biển là Lâm Trúc I, Lâm Trúc II.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Là một xã đồng bằng ven biển thuộc Duyên hải miền Trung nên mang kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô.

Mùa khô[sửa | sửa mã nguồn]

Kéo dài từ tháng 01 đến tháng 8 hằng năm: - Bình quân số giờ nắng: 8,5 giờ/ ngày.

- Nhiệt độ bình quân: 29,7 oC.

- Lượng bốc hơi bình quân: 101mm/tháng.

- Độ ẩm bình quân: 45 -50%.

Điểm nổi bậc của mùa khô là chịu ản hưởng của gió Tây Nam (gió Lào) nên mùa khô ở đây kéo dài, nhiệt độ lên rất cao từ 35 – 40oC.

Mùa mưa[sửa | sửa mã nguồn]

Kéo dài từ tháng 9 đến thánh 12 hằng năm:

- Bình quân số giờ nắng: 4,5 giờ/ ngày.

- Nhiệt độ bình quân: 26,5 oC.

- Lượng bốc hơi bình quân: 300mm/tháng.

- Độ ẩm bình quân: 85 -90%.

Điểm nổi bậc của mùa mưa là chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông-Bắc kèm theo những cơn bão lớn và thường lốc xoáy, kềm theo mưa lớn gây lụt lội cho toàn xã.

Nhìn chung, mưa nhiều nhất là vào tháng 10 và tháng 11 trong năm, mưa ít nhất vào tháng 3 và tháng 4 trong năm. Tổng lượng mưa hằng năm là 1400mm. Nhiệt độ trung bình năm là 28 -300C. Độ ẩm trung bình là 75 – 80%. Tốc độ gió trung bình là 25 m/giây, tốc độ gió mạnh là 61 m/giây. Số giờ nắng trong năm là rất lớn 2.568,5 giờ.

Hằng năm, trên địa bàn xã còn phải gánh chịu từ 7 đến 9 cơn bão lớn gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Hoài Thanh chịu ảnh hưởng lớn của sông Lại Giang. Sông Lại Giang bắt nguồn từ vùng núi cao của 2 huyện Hoài Ân và An Lão đỗ xuống đồng bằng và thoát ra của biển An Dũ (xã Hoài Hương – Hoài Nhơn)

Xã Hoài Thanh nằm cuối nguồn nước nên không chủ động nguồn nước tưới trong nông nghiệp vào mùa khô, còn về mùa mưa thường bị ngập lụt, sa bồi thủy phá. Chế độ nước ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng trên địa bàn xã.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.558,00 ha. Trong đó, đất nông nghiệp là 1.313,81 ha chiếm 84,33% tổng diện tích đất tự nhiên của xã và chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp với diện tích 1.007,21 ha chiếm 76,66% so với đất nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp có diện tích 213,29 ha chiếm 13,69% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Đất chưa sử dụng có 30,90 ha chiếm 1,98% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Xã Hoài Thanh có 4 nhóm đất: đất phù sa, đất xám bạc màu, đất gley, tầng đất mỏng. Có thể nói, tài nguyên đất ở xã Hoài Thanh khá phong phú, đã và đang sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Đất phù sa, đất xám bạc màu là hai nhóm đất quan trọng của xã. Tuy nhiên, tiềm năng sử dụng và mở rộng diện tích, đem lại hiệu quả cao là nhóm đất xám bạc màu.

Tài nguyên khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Xã có tiềm năng lớn về khai thác đá ong. Hiện nay, đã và khai thác với số lượng, quy mô lớn. Chủ yếu tập trung ở các thôn An Lộc I, An Lộc II, Trường An I, Trường An II. Trữ lượng ước khoảng 5.672.000 nghìn tấn. Nguồn khoáng sản này khai thác và tiêu thụ nội bộ trong địa bàn xã và thị xã dùng để xây dựng nhà cấp 4 và các công trình vừa và nhỏ.

Tài nguyên biển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, đội tàu đi biển của xã là 256 chiếc với công suất 14.408 CV. Tổng sản lượng khai thác thủy sản năm sau cao hơn năm trước. Sản lượng khai thác năm 2007 là 2360 nghìn tấn thủy hải sản các loại.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]