Hoàng Cơ Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Cơ Minh
Tiểu sử
Sinh

20 tháng 6, 1935(1935-06-20)

Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Mất

28 tháng 8, 1987 (52 tuổi)

Lào
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Phó đề đốc
Đơn vị Vùng II Duyên hải Việt Nam Cộng hòa
Chỉ huy Flag of South Vietnam Navy.png Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Chủ tịch Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam

Hoàng Cơ Minh (1935-1987), nguyên là một tướng lĩnh trong Quân chủng Hải quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Phó Đề đốc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường đào tạo sĩ quan hiện dịch Hải quân được mở ra ở duyên hải Trung phần những khoá đầu tiên. Ông nguyên là Tư lệnh Vùng II Duyên hải của Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Sau biến cố 30/4/1975, ông di tản sang Mỹ và đã cùng với một số chiến hữu lập ra Đảng Việt Tân. Ông là lãnh tụ của đảng này và là chủ tịch Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam chống Chính quyền Việt Nam trong thời gian từ 1975 đến 1987.

Tiểu sử & gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20-6-1935 tại Làng Vẽ, Đông Ngạc, Hà Đông trong một gia đình khoa bảng có đông anh chị em. Thời niên thiếu, ông là học sinh các trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội. Tốt nghiệp Tú tài toàn phần.

  • (Sau này ông ghi danh học tiếp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn và tốt nghiệp 2 chứng chỉ Cử nhân luật).
  • Thân phụ: Cụ Hoàng Huân Trung (Sinh năm 1879 tại Hà Đông. Đỗ Cử nhân Hán học năm 1903, tốt nghiệp trường Hậu bổ năm 1906. Nguyên là Tổng đốc ở Bắc phần thời Pháp thuộc).

Các anh em của ông đều đều tham gia Chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

  • Bào huynh:
  1. Nha sĩ Hoàng Cơ Bình (Sinh năm 1909. Nguyên ứng cử viên Tổng thống, đứng cùng liên danh với ứng cử viên phó Lưu Quang Khình, nhiệm kỳ 1967-1971. Là thân phụ của Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, Y sĩ trưởng Sư đoàn Dù).
  2. Luật sư Hoàng Cơ Thuỵ (Sinh năm 1912. Nguyên Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Ai Lao 1969-1975).
  3. Luật sư Hoàng Cơ Long.
  • Bào đệ:
  1. Hoàng Cơ Trường (Nguyên là Y sĩ Đại úy trong Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến)
  2. Tiến sĩ Hoá học Hoàng Cơ Định (Nguyên Giám đốc khoa Hoá học tại Đại học Phú Thọ, Sài Gòn).

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954: Từ dân chính, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 55/700.015. Theo học khoá 5 trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang (khai giảng: 27/7/1954, mãn khoá: 25/5/1955). Tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân (HQ) Thiếu úy thuộc ngành chỉ huy (Pont). Ra trường, ông được chuyển đến phục vụ tại Giang đoàn Xung phong.

Năm 1958: Ông được thăng cấp HQ Trung úy, giữ chức Chỉ huy trưởng Phân đội 4 thuộc Trục lôi hạm Bạch Đằng II HQ-116. Qua đầu năm 1961, ông được thăng cấp HQ Đại úy tại nhiệm.

Năm 1963: Ông được bổ nhiệm vào chức Hạm trưởng Trục lôi hạm Bạch Đằng II HQ-116. Sau đó được cử đi du học tu nghiệp tại trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (US. Naval Post Graduate School) ở Monterey, California. Mãn khoá học về nước, ông được cử làm Chỉ huy phó Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang. Sau cuộc đảo chính 1/11, ông được thăng cấp HQ Thiếu tá ngày 2/11.

Năm 1965: Ông được cử đi làm Tuỳ viên Quân lực ở Sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Seoul, Hàn Quốc do ông Ngô Tôn Đạt làm Đại sứ.

Năm 1967: Hết hạn nhiệm vụ Sĩ quan Tuỳ viên, ông được triệu hồi về nước và được thăng cấp HQ Trung tá nhận chức Trưởng khối Chiến tranh Chính trị (Trưởng phòng 5) tại Bộ tư lệnh Hải quân. Qua năm 1969, Ông được cử theo học lớp Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại Đà lạt. Mãn khoá về lại Bộ tư lệnh Hải quân ông được giữ chức Tham mưu phó Chiến tranh chính trị.

Năm 1971: Ông được thăng cấp HQ Đại tá và được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Lực lượng Thuỷ bộ 211. Đến năm 1974, ông được vinh thăng Phó Đề đốc Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân Vùng 2 Duyên hải kiêm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 232 tại Cam Ranh. Sáng ngày 2/4, ông kiêm nhiệm chức vụ Tổng trấn Quy Nhơn.

Đêm ngày 29/4, ông di tản ra khơi trên Tuần dương hạm Trần Nhật Duật HQ-03 do HQ Trung tá Nguyễn Kim Triệu làm Hạm trưởng.

Sau đó, ông định cư Herdon, ngoại ô Washington D.C, Virginia, Hoa Kỳ.

Thành lập Mặt trận và lập chiến khu[sửa | sửa mã nguồn]

Tại nơi định cư, từ năm 1976 đến năm 1978, ông thành lập Lực lượng Quân nhân Việt Nam Hải ngoại. Năm 1979, thành lập Lực lượng Quân dân Việt Nam Hải ngoại.

Ngày 30//4/1980, tại miền nam tiểu bang California, ông thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam kết nạp một số sĩ quan và viên chức cũ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa làm nòng cốt.

Năm 1981, ông lập căn cứ tại một điểm gần biên giới Thái Lan - Lào thuộc huyện Buntharích, tỉnh Uđông (Thái Lan), cách Bangkok 500 km về phía Đông Bắc.

Ngày 10/9/1982, tại căn cứ này, ông đã tổ chức đại hội lập ra Việt Nam Canh tân Cách mạng đảng gọi tắt là Việt Tân, đưa ra cương lĩnh, xác định mục tiêu là xóa bỏ chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

Ngày 27/12/1983, ông lập ra đài phát thanh Việt Nam Kháng chiến và cho xuất bản tờ báo Kháng chiến bằng tiếng Việt, phát hành tại Mỹ và nhiều nước khác. Từ năm 1983 đến 1985, ông vào các Trại tỵ nạn người Việt trên đất Thái Lan tuyển mộ được 200 người đưa về căn cứ để huấn luyện và lập thành bốn Quyết đoàn mang bí số 7684, 7685, 7686, 7687. Mỗi Quyết đoàn có quân số khoảng 50 người.

Các cuộc Đông tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24/2/1982]], tại chiến khu U-Đông ông họp báo công bố cương lĩnh chính trị và sau đó bắt đầu tổ chức những đợt hành quân Đông tiến, xuyên Lào trở về Việt Nam.

Năm 1985, ông tổ chức cho Đặng Quốc Hiền, Tư lệnh Lực lượng Vũ trang Kháng chiến dẫn đầu 40 binh sĩ trở về Việt Nam. Toán xâm nhập bị quân Lào chặn đánh, Đặng Quốc Hiền bị giết.

Ngày 15/5/1986, ông tổ chức cuộc hành quân Đông Tiến I giao cho Dương Văn Tư, Tư lệnh thay Đặng Quốc Hiền dẫn 100 quân xâm nhập Việt Nam. Ngày 19/9/1986, khi vừa đặt chân lên biên giới Việt Nam toán quân Dương Văn Tư bị Lực lượng Biên phòng Việt Nam (đồn 637), Lào và Campuchia chặn đánh và gây tổn thất.

Ngày 1/12/1986, ông mở cuộc hành quân Đông Tiến II xâm nhập Việt Nam và đích thân chỉ huy. Khi toán quân chuẩn bị vượt sông Mekong thì bị quân đội Lào-Việt phối hợp bắn chặn nên buộc phải quay về căn cứ.

Ngày 7/7/1987, ông trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân Đông Tiến II lần 2 với mục tiêu xâm nhập Việt Nam đến Tây Nguyên, để xây dựng căn cứ.

Ngày 11/7/1987, đoàn quân vượt sông Mekong vào đất Lào. Hai mươi ngày sau khi tiến gần đến biên giới Việt Nam thì bị quân đội Lào phối hợp với quân du kích chặn đánh tổng cộng 15 trận. Đêm 27/8/1987, trong trận đánh cuối cùng ông bị thương và tự sát, toán quân tan rã, một số chạy về Thái Lan, một số bị bắt sống.

Tháng 12/1987, tại Tp HCM, Tòa án Nhân dân tối cao của Việt Nam đã mở phiên tòa xét xử "vụ án Hoàng Cơ Minh cùng đồng bọn" và tuyên phạt: 1 chung thân, 15 án từ 3 đến 19 năm tù giam, một án treo, 1 tha bổng.

Sau khi trở về Hoa Kỳ, ngày 10/4/1991 một số thành viên khác có tham gia trong chiến dịch Đông Tiến bị truy tố về các gian lận tài chính. Đông tiến đến đây kết thúc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bổ sung theo:

"Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa". Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thuỵ 2011

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]