Đông Ngạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đông Ngạc
Phường
Địa lý
Diện tích 241 ha [1]
Dân số (2013)  
 Tổng cộng 23.922 người[1]
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Thành phố Hà Nội
Quận Bắc Từ Liêm
Thành lập 2013[1]

Đông Ngạcphường thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam, nổi tiếng với truyền thống hiếu học, đỗ đạt và một số nghề thủ công truyền thống như chuyên sản xuất nem ("giò Chèm, nem Vẽ"), làm quang gánh, nặn nồi đất...

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Phường Đông Ngạc gồm các tổ dân phố: Nhật Tảo 1, Nhật Tảo, Nhật Tảo 3, Nhật Tảo 4,Đông Ngạc 1, Đông Ngạc 2, Đông Ngạc 3, Đông Ngạc 4, Đông Ngạc 5, Đông Ngạc 6 và Đông Ngạc 7, năm 2014 có 3667 hộ dân[2]. Phường được thành lập năm 2013 trên cơ sở các thôn Đông Ngạc và Nhật tảo của xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (phần còn lại của xã Đông Ngạc được thành lập phường Đức Thắng).

Trước năm 1942, vùng này nguyên là xã Đông Ngạc, tổng Xuân Tảo và hai xã Liên Ngạc, Nhật Tảo, tổng Phú Gia, đều thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sau năm 1954, đây là ba xã thuộc quận Quảng Bá, ngoại thành Hà Nội. Năm 1961, ba xã này nhập thành xã Đức Thắng thuộc huyện Từ Liêm mới thành lập. Năm 1964, xã Đức Thắng đổi thành xã Đông Ngạc.[3]

Làng Đông Ngạc (tên nôm là làng Vẽ hay Kẻ Vẽ, tên chữ là Đông Ngạc[4]) được coi là một trong những làng cổ nhất của Hà Nội. Làng này còn được gọi là "làng tiến sĩ" do có rất nhiều vị tiến sĩ Hán học và Tây học là người làng.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Ngạc nổi tiếng với nghề làm giò chả, nem còn đến tận ngày nay. Người xưa có câu "Giò Chèm, nem Vẽ" để nói về 2 thứ đặc sản ngon nổi tiếng vùng này. Chèm và Vẽ là 2 làng thuộc Đông Ngạc cổ xưa, nay là phường Thụy Phương và phường Đông Ngạc. Ngoài ra, những năm 80-90, người làng Đông Ngạc còn làm mũ nan và mây tre truyền thống. Những chiếc mũ nan nhiều màu, vành rộng đã được xuất khẩu sang một số nước như Lào, Căm Pu Chia, Cuba,...

Đình Đông Ngạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phường nổi tiếng với đình làng Đông Ngạc, một ngôi đình có quy mô to lớn, nhiều hạng mục với các thành phần kiến trúc cổ kính và chuẩn mực đã tồn tại từ thế kỷ 17. Đình được xây dựng trên một thế đất cao ráo, đắc địa ở phía Bắc làng, sát với đê sông Hồng. Tương truyền, thời xưa đình vốn là một toà miếu cổ có từ thời Đường vào thế kỷ 7. Năm 1635, dân làng đã xây lại và mở rộng thành đình để thờ thành hoàng làng. Đình thờ 3 vị thần tượng trưng cho cả Thiên - Địa - Nhân.

  • Thiên thần: Thần Độc Cước, do Phan Phu Tiên rước về từ Sầm Sơn, Thanh Hoá;
  • Nhân thần: Lê Khôi, cháu vua Lê Thái Tổ, là một tướng lĩnh làm đến chức Nhập nội tư mã, Thượng tướng quân, mất sau trận thắng thành Đồ Bàn. Thần được người làng là Đô đốc Đồng Xuyên Hầu rước về từ Nghệ An;
  • Địa thần: Bản thổ Thành hoàng. (trong các sắc phong còn giữ được đều ghi là "Bảo vệ Chương Hòa đôn ngưng thổ địa hiển trưng chi thần"). Thần trừ tai chống hạn cầu cúng linh ứng. Kể từ khi có dân đến ở đến nay thì thần đã là Thành hoàng. Các triều đại đều có sắc phong, sự tích đã bị mai một, nay người dân không còn nhớ rõ nữa.

Ngoài ra Đình còn thờ tiến sĩ Phạm Quang Dung là người làng có công đứng ra trùng tu đình năm 1718 và Phạm Thọ Lý, người đã cung tiến đất làm đình lần đầu năm 1635. Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, có giá trị, như bia đá và bộ tranh sơn mài thời .

Chùa làng[sửa | sửa mã nguồn]

Phường có chùa Tư Khánh với phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 - 19. Chùa có quả chuông đúc năm Diên Hựu thứ 2 (1315). Trong chùa hiện còn có tấm bia có niên đại Thịnh Đức ghi rõ công đức của vợ chồng Nguyễn Phúc Ninh, cúng gia tư điền sản để tu bổ, dựng lại chùa, và được dân làng tôn làm Hậu Phật.

Nhà cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Phường hiện còn trên 100 ngôi nhà cổ có thời gian xây dựng trên 100 năm, trong đó có nhiều ngôi nhà gỗ được đục chạm công phu. Nhà thờ Đỗ Thế Giai, một vị quan lớn thời Lê Trịnh là nơi còn giữ được khá nhiều những di vật có giá trị và cũng là ngôi nhà được chọn làm bối cảnh quay nhiều phim truyện, phim truyền hình.

Văn học nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phường có 9 bài thơ dài để đọc lên lúc thưởng lụatiền cho các đào nương trong nghi lễ hát ca trù xưa đã được tổ chức vào dịp hội làng ngày 9 tháng 2 âm lịch hàng năm. Chín bài thơ này do Lê Đức Mao (1462 - 1529), một người hay chữ trong làng đã thay mặt các giáp soạn ra. Đây cũng là tư liệu chữ viết đầu tiên về ca trù trong kho tàng di sản Hán Nôm,[cần dẫn nguồn] và cũng là cứ liệu sớm nhất về thơ lục bátsong thất lục bát trong lịch sử văn học Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Con người[sửa | sửa mã nguồn]

Phường Đông Ngạc đã là nơi xuất thân của 18 vị Tiến sĩ nho học (với 1 Thái học sinh, 1 Bảng nhãn, 2 Hoàng giáp và 14 Đồng tiến sĩ; gồm: Phan Phu Tiên-1429, Phạm Lân Định (Luân Định)-1514, Phạm Thọ Chỉ-1577, Phạm Hiển Danh-1646, Phạm Quang Trạch-1683, Phan Vinh Phúc-1685, Phạm Quang Hoàn-1694, Phạm Quang Dung-1706, Phạm Quang Ninh (Nguyên Ninh)-1731, Phan Lê Phiên-1757, Nguyễn Đình Thạc-1779, Hoàng Tế Mỹ-1826, Phạm Gia Chuyên-1831, Nguyễn Văn Tùng-1838, Nguyễn Hữu Tạo-1844, Phạm Quang Mãn-1849, Hoàng Tướng Hiệp-1865, Nguyễn Dự-1879)[5][6][7], 2 Phó bảng nho học (Nguyễn Văn Hội-1849, Hoàng Tăng Bí-1910)[8][9], 6 vị đỗ sĩ vọng (tức thi hội chỉ vào đến tam trường nhưng nổi tiếng là hiền tài nên cũng coi như tiến sĩ), 7 tiến sĩ thời Pháp, và thời nay đã có tới hơn 50 tiến sĩ.

Xưa phường Đông Ngạc có câu ngạn ngữ "Đất Kẻ Giàn, quan Kẻ Vẽ" để bày tỏ niềm tự hào có nhiều người thành đạt trong khoa bảng. Trong các dòng tộc ở đây, họ nào cũng có người đỗ đại khoa, ít nhất là một người. Nhiều họ như họ Phạm có 16 người. Gia đình Hoàng giáp Hoàng Tế Mỹ từ khi định cư ở Đông Ngạc có 3 đời nối tiếp nhau đỗ Tiến sĩ và 1 Phó bảng (Hoàng Nguyễn Thự, Hoàng Tế Mỹ, Hoàng Tướng Hiệp, Hoàng Tăng Bí); cũng như gia đình Bảng nhãn Phạm Quang Trạch có tới 7 người đỗ đại khoa (từ Tiến sĩ Phạm Luân Định, Hoàng giáp Phạm Thọ Chỉ đến Tiến sĩ Phạm Quang Ninh) trong khoảng 217 năm (1514-1731).

Đông Ngạc đã sản sinh ra nhiều danh nhân, đóng góp lớn nhiều mặt ở nhiều lĩnh vực và mọi thời kỳ lịch sử:

Bên cạnh truyền thống khoa bảng, phường Đông Ngạc còn là một địa bàn quan trọng trong kháng chiến chống Pháp ở thủ đô Hà Nội, là cơ sở y tế cứu chữa thương binh trong trận chiến bảo vệ Hà Nội năm 1946, và đã nuôi giấu nhiều cán bộ kháng chiến trong những năm Pháp chiếm đóng. Năm 2004, Ðảng bộ và nhân dân phường Ðông Ngạc đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Nghị quyết số 132/NQ-CP của Chính phủ: Về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 02 quận và 23 phường thuộc thành phố Hà Nội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ Quyết định số 7278/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND Thành phố Hà Nội về việc thành lập thôn, tổ dân phố mới trên địa bàn thành phố Hà Nội, Cổng thông tin điện tử thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016.
  3. ^ Bùi Thiết. Làng xã ngoại thành Hà Nội. H: Hà Nội, 1985. tr. 88. 
  4. ^ Bùi Thiết. Làng xã ngoại thành Hà Nội. H: Hà Nội, 1985. tr. 89. 
  5. ^ Từ Liêm đại khoa lục, Trung tâm Unesco-Thông tin tư liệu lịch sử văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Thời đại.
  6. ^ Bia Văn miếu Hà Nội
  7. ^ Bia Văn miếu Huế
  8. ^ Từ Liêm đại khoa lục
  9. ^ Quốc triều khoa bảng lục, Cao Xuân Dục