Học viện Quân Y

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Học viện Quân y)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Học viện Quân Y, tên giao dịch quốc tế: Đại học Y - Dược Thăng Long là trường đại học trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam chuyên đào tạo bác sĩ, dược sĩ, y sĩ trình độ từ trung cấp, đại học, sau đại học cho quân đội và dân sự của Việt Nam. Trường được thành lập ngày 10 tháng 3 năm 1949. Từ tháng 6 năm 2011, Học viện có thêm tên gọi Đại học Y dược Lê Hữu Trác để giao dịch dân sự và quốc tế [1].

  • Trụ sở chính: 104 Phùng Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội: Đào tạo bác sĩ đa khoa, dược sĩ, bác sĩ chuyên khoa các bậc đại học, sau đại học cho quân đội và dân sự.
  • Trường trung học quân y 1: thị xã Sơn Tây, Hà Nội: Đào tạo y sĩ, y tá, điều dưỡng, dược sĩ trình độ trung học chuyên nghiệp.
  • Trung tâm đào tạo và nghiên cứu y dược học phía Nam: Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo bác sĩ y khoa, dược sĩ y khoa có kiến thức quân sự về chiến dịch, chiến thuật
  • Đào tạo bác sĩ quân y từ cấp trung đoàn trở lên
  • Đào tạo sau đại học: Thạc sĩ, Tiến sĩ, Bác sĩ chuyên khoa 1, Bác sĩ chuyên khoa 2
  • Nghiên cứu Y học Quân sự
  • Đào tạo Bác sĩ, Dược sĩ phục vụ dân sự
  • Đào tạo y sĩ, y tá, điều dưỡng, dược sĩ trình độ trung học chuyên nghiệp.

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Quân y sĩ Việt Nam: 1949 – 1957
  • Trường sĩ quan Quân y: 1957 – 1962
  • Viện nghiên cứu Y học Quân sự: 1962 - 1966
  • Đại học Quân y: 1966 – 1981
  • Học viện Quân y (tiếng Anh: Vietnam Military Medical Academy), 1981 đến nay

Tiềm lực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Qua 59 năm xây dựng và phát triển, Học viện Quân y có gần 2.500 cán bộ, công nhân viên (gần 900 người làm công tác quản lý, giảng dạy, nghiên cứu khoa học; trên 90% cán bộ giảng viên đạt trình độ sau đại học, cụ thể có 72 tiến sỹ, 01 giáo sư, 02 phó giáo sư) va nhiều thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I và II. Đào tạo cho đất nước 60.000 cán bộ, nhân viên y tế trong đó gần 600 tiến sỹ, trên 6.000 thạc sỹ, bác sỹ nội trú, bác sỹ chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2, gần 21.600 bác sỹ, dược sỹ, cử nhân điều dưỡng, cử nhân kỹ thuật và trên 34000 nhân viên y tế. Hoàn thành trên 3.400 đề tài khoa học, gần 2.000 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, trong đó có 62 đề tài cấp Nhà nước; trên 300 đề tài và sáng kiến cáp Bộ (thời điểm 03/2009)...
  • Hàng năm, Học viện Quân y đào tạo cho quân đội và đất nước khoảng 300 bác sĩ đa khoa và dược sĩ đại học, 100 thạc sĩ y họctiến sĩ y khoa cùng với khoảng 500 y sĩ, điều dưỡng trung học chuyên nghiệp và dược sĩ trung học. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ khoa học và giảng viên của Học viện cũng đảm nhận hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và cấp nhà nước.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, Học viện Quân y có 9 phòng trực thuộc, 2 bệnh viện thực hành (Bệnh viện 103 và Viện Bỏng Quốc gia), 1 trường trung cấp y, 4 hệ quản lý học viên, 7 trung tâm và gần 100 bộ môn – Khoa.

Ban giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc: Trung tướng, GS.TS. Nguyễn Tiến Bình;
  • Chính ủy: Thiếu tướng PGS.TS Nguyễn Trọng Chính;
  • Phó giám đốc: Thiếu tướng, GS.TS. Đồng Khắc Hưng;
  • Phó giám đốc: Thiếu tướng GS.TS. Hoàng Văn Lương;
  • Phó chính ủy: Thiếu tướng TS. Vũ Hữu Dũng
  • Phó giám đốc: Thiếu tướng Phạm Văn Mạnh;
  • Phó giám đốc: Đại tá, PGS.TS Đỗ Quyết;

Các phòng, ban[2][sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng;
  • Phòng Chính trị;
  • Phòng Đào tạo;
  • Phòng Hậu cần;
  • Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục
  • Phòng Khoa học Công nghệ & Môi trường;
  • Phòng Sau đại học;
  • Phòng Tài chính;
  • Phòng Thông tin Khoa học Quân sự (Tạp chí Y dược học Quân sự/ Học viện Quân y.- ISSN 1859 - 0748);
  • Phòng Trang bị Vật tư Kỹ thuật
  • Ban Công nghệ Thông tin
  • Ban Quản lý Dự án

Các hệ quản lý sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hệ 1: Hệ Sau đại học;
  • Hệ 2: Hệ Đại học;
  • Hệ 3: Hệ Quốc tế;
  • Hệ 4: Hệ Trung cấp;
  • Hệ 5: Hệ Quản lý học viên dân sự.

Các Bộ môn khoa học và trung tâm nghiên cứu y dược học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm nghiên cứu và đào tạo y học quân sự phía Nam (Q10-Thành phố Hồ Chí Minh);
  • Trung tâm đào tạo và nghiên cứu Dược;
  • Trung tâm nghiên cứu sinh, y, dược học quân sự;
  • Bộ môn Giáo dục quốc phòng;
  • Bộ môn Tổ chức chỉ huy quân y;
  • Bộ môn Dịch tễ học;
  • Bộ môn Độc học;
  • Bộ môn y học môi trường;
  • Bộ môn y học quân - binh chủng;
  • Bộ môn Toán tin;
  • Bộ môn Vật lí - Lí sinh;
  • Bộ môn Sinh học và Di truyền y học;
  • Bộ môn Hóa học;
  • Bộ môn Ngoại ngữ;
  • Bộ môn Dược lý học;
  • Bộ môn Sinh lý học;
  • Bộ môn Sinh lý bệnh;
  • Bộ môn Mô học;
  • Bộ môn Giải phẫu người;
  • Bộ môn Miễn Dịch học;
  • Bộ môn Ký sinh trùng.

Bệnh viện 103[sửa | sửa mã nguồn]

Giám đốc: Thiếu tướng, PGS. TS. Hoàng Mạnh An.
Chính ủy: Đại tá, Nguyễn Mạnh Sử.
Phó giám đốc ngoại: Đại tá, GS. TS. Lê Trung Hải.
Phó giám đốc nội: Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Oanh Oanh.
Phó giám đốc y vụ: Đại tá, PGS.TS. Nguyễn Văn Khoa.
Phó giám đốc giáo vụ: Đại tá, PGS.TS. Trần Viết Tiến

  • Khoa khám bệnh;
  • Bộ môn-khoa Vi sinh vật;
  • Bộ môn-khoa Hóa sinh;
  • Bộ môn- khoa Chẩn đoán chức năng (C9);
  • Bộ môn-khoa Chẩn đoán hình ảnh;
  • Bộ môn-khoa Giải phẫu bệnh-Pháp y (C6);
  • Bộ môn-khoa Huyết học và Truyền máu;
  • Bộ môn-khoa nội Tiêu hóa (A1;)
  • Bộ môn Tim mạch - Thận - Khớp - Nội Tiết:
- Khoa Tim mạch (A2)
- Khoa Khớp và Nội tiết (A11)
- Khoa Thận và lọc máu nhân tạo (A12)
  • Bộ môn-khoa nội Hô hấp (A3)
  • Bộ môn nội Thần kinh:
- Khoa Thần kinh (A4)
- Khoa Đột quị (A14)
  • Bộ môn-khoa Truyền Nhiễm (A5);
  • Bộ môn-khoa Tâm thần (A6);
  • Bộ môn-khoa Nội dã chiến, huyết học lâm sàng và Bệnh nghề nghiệp (A7);
  • Bộ môn-khoa Da Liễu (A8);
  • Bộ môn-khoa Y học cổ truyền (A9);
  • Bộ môn-khoa Nhi (A10);
  • Bộ môn-khoa Y học hạt nhân (K71);
  • Bộ môn-khoa Vật lý - Trị liệu
  • Bộ môn-khoa ngoại Chấn thương và chỉnh hình (B1);
  • Bộ môn-khoa ngoại Tiêu hóa (B2);
  • Bộ môn-khoa Mắt (B4);
  • Bộ môn-khoa Gây mê (B5);
  • Bộ môn-khoa Tai- Mũi- Họng (B6);
  • Bộ môn-khoa ngoại thận và tiết niệu (B7);
  • Bộ môn-khoa Hàm- Mặt (B8);
  • Bộ môn-khoa ngoại Thần kinh (B9);
  • Bộ môn-khoa Sản và phụ khoa (B10);
  • Bộ môn-khoa Hồi sức cấp cứu (B11);
  • Bộ môn-khoa ngoại Lồng ngực và Tim mạch (B12);
  • Bộ môn-khoa Răng (B14);
  • Bộ môn-khoa ngoại dã chiến (B15);
  • Khoa Cấp cứu lưu (B16);
  • Bộ môn-khoa Dinh dưỡng và tiết chế;
  • Bộ môn Điều dưỡng;
  • Khoa Dược- Bệnh viện 103;
  • Khoa chống nhiễm khuẩn.

Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác[sửa | sửa mã nguồn]

Giám đốc: Đại tá, PGS.TS Nguyễn Gia Tiến

  • Bộ môn Bỏng;
  • Khoa hồi sức cấp cứu;
  • Khoa bỏng người lớn;
  • Khoa bỏng trẻ em;
  • Khoa di chứng bỏng và chỉnh hình;
  • Khoa khám bệnh;
  • Khoa xét nghiệm.
  • Khoa Gây mê.

Các trường phổ thông quân y[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu và thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Sao vàng
  • Huân chương Hồ Chí Minh
  • Anh hùng LLVT Nhân dân trong thời kỳ Đổi mới (2005)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhất
  • Huân chương Quân công hạng Nhất
  • 20 Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc các loại
  • Hai công trình khoa học được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (giải thưởng khoa học và công nghệ cao quý nhất của Việt Nam):
    • Năm 1996, Cụm công trình "" của Giáo sư Đỗ Xuân Hợp được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1.
    • Năm 2005, Cụm công trình ghép tạng (của các tác giả: GS. TS. Phạm Gia Khánh, GS. TSKH. Lê Thế Trung, GS. TSKH. Phạm Mạnh Hùng, GS. TS. Đỗ Kim Sơn, PGS. Tôn Thất Bách, PGS. TS. Trương Văn Việt, TS. Trần Ngọc Sinh, PGS. TS. Phạm Như Thế, PGS. TS. Nguyễn Thanh Liêm và các cộng sự) được nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • 2 đề tài khoa học được tặng Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC, 3 đề tài khoa học được tặng giảI thưởng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
  • 2 đơn vị trực thuộc Học viện và 16 cán bộ từng công tác, học tập tại Học viện được phong danh hiệu Anh hùng; hàng trăm lượt đơn vị được tặng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động, Huân chương Bảo vệ Tổ Quốc...
  • Từ 1996-2007 (13 năm liên tục) Học viện được Bộ giáo duc-Đào tạo tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học.

Các cán bộ tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • GS Đinh Văn Thắng: nguyên Hiệu trưởng (3/1949 - 8/1949)
  • GS Nguyễn Trinh Cơ: nguyên Hiệu trưởng (9/1949 - 01/1951)
  • Thiếu tướng, Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: nguyên Hiệu trưởng, Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1 năm 1996;
  • Thiếu tướng, Giáo sư Nguyễn Thúc Mậu: nguyên Hiệu trưởng (1979-1981), nguyên Giám đốc Học viện Quân y (1981 - 1986).
  • Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tăng Ấm: nguyên hiệu phó, Thứ trưởng Bộ y tế, Thầy thuốc nhân dân;
  • Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung: nguyên Giám đốc Học viện Quân Y (1986 - 1995), Giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Phạm Gia Khánh: nguyên Giám đốc Học viện Quân Y (1995 - 2007), Giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc nhân dân, Nguyễn Tiến Bình: Giám đốc Học viện Quân Y (từ 2007 đến nay).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]