In the Aeroplane Over the Sea

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
In the Aeroplane Over the Sea
In the aeroplane over the sea album cover copy.jpg
Album phòng thu của Neutral Milk Hotel
Phát hànhngày 10 tháng 2 năm 1998
Thu âmTháng 7–tháng 9 năm 1997, Pet Sounds Studio, Denver, Colorado
Thể loạiIndie rock, folk rock, lo-fi
Thời lượng39:55
Hãng đĩaMerge, Domino
Sản xuấtRobert Schneider
Thứ tự album của Neutral Milk Hotel
On Avery Island
(1996)On Avery Island1996
In the Aeroplane Over the Sea
(1998)
Ferris Wheel on Fire
(2011)Ferris Wheel on Fire2011

In the Aeroplane Over the Sea là album phòng thu thứ hai của ban nhạc người Mỹ Neutral Milk Hotel. Nó được phát hành ở Hoa Kỳ ngày 10 tháng 2 năm 1998 bởi Merge Records và tháng 5 năm 1998 bởi Blue Rose Records ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.

Jeff Mangum (hát chính của ban nhạc) chuyển từ Athens, Georgia tới Denver, Colorado để chuẩn bị phần lớn vật liệu cho album với nhà sản xuất Robert Schneider, lần này ở Pet Sounds Studio của Schneider tại nhà Jim McIntyre.

Đây là album vinyl bán chạy thứ sáu năm 2008.[1]

Nguồn cảm hứng[sửa | sửa mã nguồn]

In the Aeroplane Over the Sea thường được cho là viết về Anne Frank vì lời bài hát có vẻ nói về cô, như những câu hát về ngày sinh và mất của cô.[2] Mặc dù ban nhạc chưa bao giờ tuyên bố chính thức album thực sự về Frank, đây là giả thuyết phổ biến của người hâm mộ, và Jeff Mangum đã đề cập đến ảnh hưởng của nhật ký của Frank lên chính Mangum và công khai nói "Holland, 1945" là về cô khi biểu diễn trực tiếp.[3]

Bìa album[sửa | sửa mã nguồn]

Chris Bilheimer biến một tấm bưu thiếp cũ thành bìa album.

Bìa album là sản phẩm cộng tác của Mangum với Chris Bilheimer, nhà thiết kế bìa album cho R.E.M..[4] Thiết kế này nói chung phản ánh sở thích của Jeff Mangum; Bryan Poole nói rằng "Mangum luôn thích các hình ảnh kiểu thời kỳ cũ, ma thuật, gánh xiếc nữa mùa, chuyển giao thế kỷ, dãy cuốn penny."[5] Mangum cho Bilheimer xem một tấm bưu thiếp châu Âu cũ, và thay đổi nó.[5] Bilheimer cũng thiết kế các tờ lời bài hát kiểu biểu ngữ cho album, và đặt tên cho "Holland, 1945"; Mangum không biết nên dùng "Holland" hoặc "1945" cho bài hát, và Bilheimer gợi ý dùng cả hai.[6]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[7]
Chicago Tribune2.5/4 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[8]
Entertainment WeeklyB+[9]
Mojo4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[10]
NME6/10[11]
Pitchfork Media8.7/10 (1998)[12]
10/10 (2005)[3]
Rolling Stone3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[13]
The Rolling Stone Album Guide4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[14]
Spin7/10[15]
Sputnikmusic5/5[16]

Ban đầu, In the Aeroplane Over the Sea nhận được nhiều phản ứng trái chiều. Bài phê bình của College Music Journal gọi Aeroplane là "một ranh giới thực sự của true lo-fi pop" và "Holland, 1945" là điểm nhấn.[17] M. Christian McDermott của Pitchfork Media cho album 8.7 trên 10, và gọi Neutral Milk Hotel là "một ban nhạc psych-rock làm nhạc lôi cuốn cũng như khủng khiếp" và album "pha trộn Sgt. Pepper với lo-fi đầu thập kỷ 90."[12] Bài đánh giá của Ben Ratliff cho Rolling Stone tiêu cực hơn: "Không may, Mangum đi thẳng đến khóa học cấp cao về tinh hoa và tổ chức, bỏ qua rèn luyện cơ bản về hình thái và tự chỉnh sửa. [...] Anh hát to, quá mức giới hạn của một giọng hát không cảm động. [...] Cho những người không hoàn toàn bị bán bùa mê, Aeroplane là thứ máu mỏng, lơ đản."[13] Spin cho rằng album gồm "những bản pop cắt và dán vừa hài hước một cách đen tối vừa thông thái đáng ngạc nhiên".[15]

Các bài đánh giá mới của Pitchfork Media và Rolling Stone tích cực hơn; sau khi cho album năm sao trong The New Rolling Stone Album Guide: Completely Revised and Updated 4th Edition năm 2004, cây viết Roni Sarig ghi, "Mangum đặt lại với nhau một cái gì đó giống như một ban nhạc thực sự, kết quả là âm thanh phong phú và có hệ thống [hơn On Avery Island]. Cần gì hơn, cách viết lời đã trổ hoa vượt xa ranh giới của Elephant 6 (hay indie rock nói chung)," Sarig cũng tán dương "những tiếng bập bung say sưa trên guitar mộc, giai điệu không cưỡng lại được, và lời bài hát hiếm khi cảm thấy tù túng ngay cả khi chúng vô nghĩa."[18] Pitchfork, năm 2005 trong bài đánh giá của Mark Richardson, cho album điểm tuyệt đối. Richardson khen ngợi lời bài hát thẳng thắn và phong cách nhạc "kính vạn hoa".[3]

Win Butler của Arcade Fire xem Aeroplane là một trong những lý do chính ban nhạc ký hợp đồng với Merge.[19] Jesse Lacey của Brand New gọi In the Aeroplane Over the Sea "đĩa nhạc vĩ đại nhất từng được sáng tác", và đã hát lại (cover) "Holland, 1945", "Oh Comely", và "Two-Headed Boy, Part Two" trong các buổi diễn.[20][21] Tháng 8, 2010, The Swell Season hát "Two-Headed Boy" cho loạt A.V. Undercover của The A.V. Club.[22] Cùng năm đó, bộ đôi Dresden Dolls hát "Two-Headed Boy" cho Holiday Undercover của The A.V. Club.[23] Năm 2010, Neutral Uke Hotel bắt đầu lưu diễn và biểu diễn phiên bản ukulele của tất cả bài hát trong album.[24]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả bài hát viết bởi Jeff Mangum, trừ khi có ghi chú. Phần kèn cor được soạn bởi Robert SchneiderScott Spillane

STTTựa đềPhổ lờiThời lượng
1."The King of Carrot Flowers Pt. One" 2:00
2."The King of Carrot Flowers Pts. Two & Three"Jeremy Barnes, Julian Koster, Jeff Mangum, Scott Spillane3:06
3."In the Aeroplane Over the Sea" 3:22
4."Two-Headed Boy" 4:26
5."The Fool"Spillane1:53
6."Holland, 1945" 3:15
7."Communist Daughter" 1:57
8."Oh Comely" 8:18
9."Ghost" 4:08
10."[untitled][25]" 2:16
11."Two-Headed Boy Pt. Two" 5:13
Tổng thời lượng:39:55

Thành phần tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Neutral Milk Hotel

Nhạc công khác

Thành phần khác

  • Chris Bilheimer – chỉ đạo nghệ thuật
  • Brian Dewan – minh họa

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Công bố Quốc gia Danh hiệu Năm Vị trí
Amazon.com Hoa Kỳ The 100 Greatest Indie Rock Albums of All Time[26] 2009 #2
Blender Hoa Kỳ 100 Greatest Indie-Rock Albums Ever[27] 2007 #32
Entertainment Weekly Hoa Kỳ Indie Rock 25[28] 2008
*
Magnet Hoa Kỳ Top 60 Albums, 1993-2003[29] 2003 #1
Nude as the News Hoa Kỳ The 100 Most Compelling Albums of the 90s[30] 1999 #3
Pitchfork Media Hoa Kỳ Top 100 Albums of the 1990s[31] 2003 #4
Paste Hoa Kỳ The Best 90 Albums of the 1990s[32] 2012 #2
Tạp chí Q Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Top 30 Albums of the Past 25 Years[33] 2010 #16
Spin Hoa Kỳ 100 Greatest Albums, 1985-2005[34] 2005 #97
Village Voice Hoa Kỳ Pazz & Jop: Albums of the Year[35] 1998 #15

(*) danh sách không theo thứ tự.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kreps, Daniel (ngày 8 tháng 1 năm 2009). “Radiohead, Neutral Milk Hotel Help Vinyl Sales Almost Double in 2008”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009.
  2. ^ Clark, Taylor (ngày 26 tháng 2 năm 2008). "Jeff Mangum, the Salinger of indie rock". Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  3. ^ a b c Richardson, Mark (ngày 26 tháng 9 năm 2005). “Neutral Milk Hotel: In the Aeroplane Over the Sea”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
  4. ^ Cooper (2005), p. 79 [1].
  5. ^ a b Cooper (2005), p. 81 [2].
  6. ^ Cooper (2005), p. 82 [3].
  7. ^ Ankeny, Jason. In the Aeroplane Over the Sea – Neutral Milk Hotel”. AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007.
  8. ^ Kot, Greg (ngày 20 tháng 2 năm 1998). “Neutral Milk Hotel In the Aeroplane Over the Sea (Merge)”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015.
  9. ^ Brunner, Rob (ngày 6 tháng 3 năm 1998). In the Aeroplane Over the Sea. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015.
  10. ^ “Neutral Milk Hotel – In the Aeroplane Over the Sea CD”. CD Universe. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015.
  11. ^ Fadele, Dele (ngày 23 tháng 5 năm 1998). “Neutral Milk Hotel – In The Aeroplane Over The Sea. NME. Lưu trữ bản gốc Tháng 8 17, 2000. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  12. ^ a b McDermott, M. Christian (1998). "Neutral Milk Hotel: In the Aeroplane Over the Sea". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014.. Pitchfork Media. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
  13. ^ a b Ratliff, Ben (ngày 13 tháng 2 năm 1998). "In the Aeroplane Over the Sea: Neutral Milk Hotel: Review" Lưu trữ 2010-07-16 tại Wayback Machine. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
  14. ^ “Neutral Milk Hotel: Album Guide”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc 19 Tháng 2 2011. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2016. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  15. ^ a b Himmelsbach, Erik (tháng 3 năm 1998). “Neutral Milk Hotel: In the Aeroplane Over the Sea. Spin. 14 (3): 134–35. ISSN 0886-3032. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015.
  16. ^ Thomas, Adam (ngày 31 tháng 8 năm 2011). “Neutral Milk Hotel – In the Aeroplane Over the Sea. Sputnikmusic. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  17. ^ Helms, Colin. "Neutral Milk Hotel: In the Aeroplane Over the Sea". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014.. College Music Journal. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
  18. ^ Bracket and Hoard (2004), p. 579.
  19. ^ Schreiber, Ryan (ngày 14 tháng 2 năm 2005). "Interview: The Arcade Fire". Pitchfork Media. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2007.
  20. ^ "Brand New singer covers Neutral Milk Hotel's ‘Oh Comely’". The Phoenix. ngày 1 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007.
  21. ^ "Jesse Lacey playing Neutral Milk Hotel's Two Headed Boy Part 2 at Mr. Smalls Theatre in Pittsburgh, PA on August 4th, 2008" trên YouTube. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  22. ^ Padgett, Ray (ngày 10 tháng 8 năm 2010). "The Swell Season Bring Their Oscar-Winning Hollers to Neutral Milk Hotel". Cover Me. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  23. ^ “Dresden Dolls cover Neutral Milk Hotel”. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013.
  24. ^ Padgett, Ray (ngày 6 tháng 8 năm 2010). "Song of the Day: Neutral Uke Hotel, ‘The King of Carrot Flowers Pt. One’". Cover Me. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  25. ^ Untitled at the time of release, this song was later renamed "The Penny Arcade in California".
  26. ^ "The 100 Greatest Indie Rock Albums of All Time". Amazon.com. ngày 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  27. ^ "100 Greatest Indie-Rock Albums Ever". Blender. ngày 14 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011.
  28. ^ "Indie Rock 25". Entertainment Weekly. ngày 20 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
  29. ^ "‘The Evidence’: Magnet's Top 60 Albums, 1993-2003 (10th Anniversary Issue)". Magnet. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007.
  30. ^ “IIS7”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2004. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015.
  31. ^ LeMay, Matt (ngày 17 tháng 11 năm 2003). "Top 100 Albums of the 1990s: In the Aeroplane Over the Sea". Pitchfork Media. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007.
  32. ^ Jackson, Josh (ngày 24 tháng 2 năm 2012). [4]. Paste (tạp chí). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014.
  33. ^ "Q's top 30 albums of the past 25 years: 16. In the Aeroplane Over the Sea - Neutral Milk Hotel". The Independent. ngày 23 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010.
  34. ^ "100 Greatest Albums, 1985-2005". Spin. ngày 20 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2011.
  35. ^ "The Village Voice Pazz & Jop Music Poll: Winners: Albums 1998". Village Voice. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]