Jerzy Janowicz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Jerzy Janowicz
Janowicz WM17 (10) (36016617462).jpg
Quốc tịch Ba Lan
Nơi cư trúŁódź, Ba Lan
Sinh13 tháng 11, 1990 (28 tuổi)
Łódź, Ba Lan
Chiều cao2,03 m (6 ft 8 in)
Lên chuyên nghiệp2007
Tay thuậnPhải (trái tay 2 tay)
Tiền thưởng$1,149,223
Đánh đơn
Thắng/Thua35–27
Số danh hiệu0
Thứ hạng cao nhất14 (12.8.2013)
Thứ hạng hiện tại105 (25.4.2016)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộng3R (2013)
Pháp mở rộng3R (2013)
WimbledonBán kết (2013)
Mỹ Mở rộng1R (2012)
Đánh đôi
Thắng/Thua11–9
Số danh hiệu0
Thứ hạng cao nhấtNo. 59 (10 tháng 6 năm 2013)
Thứ hạng hiện tạiNo. 59 (10 tháng 6 năm 2013)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộng2R (2013)
Pháp Mở rộngTứ Kết (2013)
Cập nhật lần cuối: ngày 10 tháng 6 năm 2013.

Jerzy Janowicz (sinh ngày 13 tháng 11, năm 1990) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Ba Lan. Anh đã từng 5 lần đánh bại các tay vợt trong TOP 20 đánh đơn thế giới, gồm Andy Murray. Thành tích tốt nhất của anh ở Grand Slam là lọt vào trận bán kết Wimbledon 2013 nhờ vậy anh được thăng hạng 17 thế giới và lần đầu tiên lọt vào TOP 20.[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Anh đã chơi quần vợt từ rất trẻ và đã 2 lần vào chung kết nội dung đơn nam dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên của 2 giải Grand Slam gồm Giải quần vợt Mỹ mở rộng 2007 và French Open 2008.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Ở 2 giải Grand Slam đầu tiên của năm là Australia OpenFrench Open, anh đều đủ tiêu chuẩn tham gia và đều dừng chân ở vòng 3 của hai giải đấu Grand Slam này.

Giải Gran Slam thứ 3 trong năm khởi tranh và giải đấu này là bước ngoặt trong cuộc đời của anh khi lần đầu tiên lọt vào trận tứ kết Grand Slam và lọt tiếp vào trận bán kết sau khi thắng 3 set nhanh chóng với người đồng hương người Ba Lan là Lukasz Kubot với tỷ số 7-5, 6-4, 6-4 để trở thành tay vợt người Ba Lan đầu tiên lọt vào trận Bán Kết Grand Slam. Đối thủ của anh ở trận bán kết là Andy Murray người từng thua anh trước đó, anh đã thắng Andy Murray ở set đầu 7-6 nhưng đã bị thua ngược với 3 set thắng của Andy Murray 6-4, 6-4, 6-3. Nhưng nhờ lọt vào bán kết anh đã lần đầu tiên được thăng hạng 17 thế giới.

Các trận chung kết trong ATP Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nam: 1 (0–1)[sửa | sửa mã nguồn]

Legend
Grand Slam (0–0)
ATP World Tour Finals (0–0)
ATP World Tour Masters 1000 (0–1)
ATP World Tour 500 Series (0–0)
ATP World Tour 250 Series (0–0)
Têns by surface
Hard (0–1)
Clay (0–0)
Grass (0–0)
Outcome No. Date Tournament Surface Opponent Score
Á quân 1. ngày 4 tháng 11 năm 2012 Paris Masters, Paris, France Hard (i) Tây Ban Nha David Ferrer 4–6, 3–6

Đồng đội nam: 1 (0–1)[sửa | sửa mã nguồn]

Legend
Grand Slam (0–0)
ATP World Tour Finals (0–0)
ATP World Tour Masters 1000 (0–1)
ATP World Tour 500 Series (0–0)
ATP World Tour 250 Series (0–0)
Têns by surface
Hard (0–1)
Clay (0–0)
Grass (0–0)
Outcome No. Date Tournament Surface Partnering Opponents Score
Á quân 1. ngày 16 tháng 3 năm 2013 Indian Wells Masters, Indian Wells, United States Hard Philippines Treat Conrad Huey Hoa Kỳ Bob Bryan
Hoa Kỳ Mike Bryan
3–6, 6–3, [6–10]

Các trận chung kết Grand Slam giải trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nam: 2 (0–2)[sửa | sửa mã nguồn]

Outcome No. Date Tournament Surface Opponent Score
Á quân 1. ngày 9 tháng 9 năm 2007 US Open Hard Litva Ričardas Berankis 3–6, 4–6
Á quân 2. ngày 8 tháng 6 năm 2008 French Open Clay Trung Hoa Đài Bắc Tsung-hua Yang 3–6, 6–7(5–7)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jerzy Janowicz Player Profile”. ATPWorldTour.com. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]