Kim Fupz Aakeson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kim Fupz Aakeson
Rødovredagen 2019 - Kim Fupz Aakeson.jpg
Kim Fupz Aakeson, 2019.
Sinh12 tháng 9, 1958 (63 tuổi)
Copenhagen, Đan Mạch
Quốc tịchĐan Mạch
Trường lớpTrường Điện ảnh Đan Mạch (1994-1995)
Nghề nghiệpNhà văn, nhà biên kịch

Kim Fupz Aakeson (sinh ngày 12 tháng 9 năm 1958 tại Copenhagen) là một nhà văn, họa sĩ minh họa và nhà biên kịch người Đan Mạch[1][2] và cũng đã làm việc trong nhiều ngành nghề tương tự khác.[3] Ông ra mắt lần đầu tiên vào năm 1984 với cuốn sách dành cho trẻ em Hvem vover at vække guderne, nhưng sau đó ông đã viết cả truyện ngắn và tiểu thuyết ngoài sách dành cho trẻ em, thường là hợp tác với họa sĩ minh họa Cato Thau-Jensen. Trước đó vào năm 1982, ông ra mắt với tư cách là một họa sĩ vẽ tranh biếm họa cho album Go drop on life. Ông tốt nghiệp ngành biên kịch của trường điện ảnh năm 1996, từ đó ông đã viết cả truyện ngắn và phim truyện. Trước đây, Fupz Aakeson từng là họa sĩ minh họa tự do cho nhiều tờ báo khác nhau. Ông cũng đã từng là một nhà viết kịch cho Nhà hát AalborgNhà hát Radio.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Fupz Aakeson sinh năm 1958 tại Vesterbro ở Copenhagen và lớn lên ở Hvidovre và Albertslund. Sau khi tốt nghiệp Vallensbæk Gymnasium năm 1977, Fupz Aakeson sống ở Pakistan trong 16 tháng do Tvinds Rejsende Højskole gửi đến. Vào đầu những năm 1980, ông là một họa sĩ minh họa tự do cho các tờ báo và tạp chí của Đan Mạch. Lần phát hành đầu tiên của ông mang tên chính mình là album truyện tranh "Gå løs på livet" năm 1982. Hai năm sau, ông xuất bản cuốn sách thiếu nhi đầu tiên của mình: "Hvem vover at vække guderne?". Năm 1996, Fupz Aakeson hoàn thành chương trình học của mình với tư cách là nhà biên kịch tại Trường Điện ảnh Đan Mạch và kể từ đó đã chuyển giao kịch bản cho cả phim truyện, phim ngắn, kịch phát thanh và kịch.[2] Kim Fupz Aakeson đã rất nghi ngờ về tương lai của mình sẽ như thế nào. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, ông đã lấy bằng HF vào năm 1977, điều mà ông không thực sự thích vì có nhiều thứ hơn để ngồi và đọc, v.v. Ông đã vượt qua được điều này. Và sau đó ong có một chuyến đi đến Afghanistan, tuy không thành công lắm nhưng nó đã mở ra rất nhiều cơ hội, và ông phát hiện ra rằng còn có những thứ khác ngoài việc đọc và nghiên cứu. Sau đó, ông này ra ý tưởng vẽ tranh, làm đài phát thanh địa phương, vẽ truyện tranh và là thành viên của ban nhạc với các dụng cụ có phím.

Sau khi viết những mẩu báo nhỏ trong một thời gian dài, ông tình cờ tìm thấy những cuốn sách dành cho trẻ em. Mặc dù ông không biết gì về trẻ em, hoặc có bất kỳ sở thích đặc biệt nào với chúng, ông vẫn chọn viết sách cho trẻ em. Ông đã viết rất nhiều một mình, những người khác cộng tác với Eva Eriksson - trong số những thứ khác. Ông đã viết Så blev farfar et spøgelse vào năm 2004. Nhưng khi viết truyện, ông vẽ ít bản vẽ hơn và viết nhiều chữ hơn, và cuối cùng ông đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình. Kim Fupz Aakeson đã dần trở thành một ngôi sao nhỏ nổi tiếng ở Đan Mạch. Ông đã viết kịch bản cho một số thành công lớn nhất của phim Đan Mạch gần đây, bao gồm "The Only One", OkayPrague, trong khi là một nhà văn, ông đã đạt được thành công lớn với các cuốn sách dành cho trẻ em của mình, bao gồm cả sách ảnh về Vitello. Xem nhanh cuốn thư mục ấn tượng của Fupz Aakeson cho thấy ông không chỉ là một trong những tác giả có năng suất cao nhất Đan Mạch, mà còn bao gồm hầu hết các thể loại: trong hơn 30 năm qua, ông đã xuất bản tiểu thuyết, tuyển tập truyện ngắn, truyện tranh, kịch và sách nhiều thể loại.

Kim Fupz Aakeson ra mắt với cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn đầu tiên, "Min Laslo", vào năm 1993 và kể từ đó đã xuất bản thêm bảy tiểu thuyết và bốn tuyển tập truyện ngắn.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1982 Gå løs på livet (phim hoạt hình)
  • 1984 Hvem vover at vække guderne?
  • 1984 General von Falderalala (den grusomme)
  • 1984 Langt ud af halsen!! (album hoạt hình)
  • 1985 Tillykke Hr. Struganof
  • 1985 Da Theodor Thomsen fik vinger
  • 1985 Nissen der ville være berømt
  • 1987 Kys! (album hoạt hình)
  • 1988 Poeten fra Vanløse
  • 1988 Didriksen detektiverne
  • 1988 Hr. Wilders stjerne
  • 1989 Verdens grimmeste pige
  • 1989 Op og stå (album hoạt hình)
  • 1990 Stor og stærk
  • 1990 Dengang min onkel Kulle blev skør
  • 1991 Pip og papegøje
  • 1991 Englebarnet
  • 1992 Sallies historier
  • 1992 De Gale, lấy bối cảnh vào năm 2010, nơi một loại virus đã khiến hầu hết người Đan Mạch trong hơn 25 năm trở nên điên loạn.
  • 1993 Min Laslo
  • 1993 En helt anden historie
  • 1994 Svendman
  • 1994 Lyden af Eva
  • 1995 Og så er det godnat!
  • 1995 "Hunden"
  • 1996 Stakkels konge
  • 1996 Dyrekredsen
  • 1996 Prinsessen der altid havde ret
  • 1996 Jomfruen
  • 1998 Læseren
  • 1998 Alting og Ulla Vilstrup
  • 1998 Mor
  • 1999 Pigen der krøb
  • 1999 Da Gud fik en hobby
  • 1999 Min uartige mund
  • 1999 Rokketand
  • 1999 Popmusik
  • 1999 Fandens Far!
  • 2000 Poulsens pirater
  • 2001 Party
  • 2001 Den grusomme jæger
  • 2001 Drengen der lå i sin seng mens hans far og damefrisøren så på
  • 2002 Mellemvægt
  • 2002 Miraklernes tid
  • 2002 Endnu flere helt andre historier
  • 2002 Tennis
  • 2002 Manden og damen og noget i maven
  • 2003 X
  • 2003 En helt anden historie og andre historier
  • 2003 Kollision
  • 2003 Min onkel og min onkels nye hund
  • 2003 Ordbog
  • 2003 Tante T
  • 2004 Pigen der fik rigtig mange søskende
  • 2004 En pige en løve en storvildtjæger
  • 2002 Tennis
  • 2004 Farmanden
  • 2004 Den legetøjsløse stakkel
  • 2004 Så blev Farfar et spøgelse
  • 2005 Cowboy cowboy
  • 2005 Anden omgang (tuyển tập truyện ngắn)
  • 2006 Kommando Villavej
  • 2006 En historie om vokseværk
  • 2006 Damen der elskede sin dreng
  • 2006 Den store Fupz
  • 2006 Engelbrecht H og den sidste chance
  • 2007 Læreplads
  • 2007 Verdens uartigste dreng
  • 2007 Pigen der skulle vælge
  • 2007 Tilløb
  • 2007 Derfor prutter man
  • 2008 Vitello vil have en far
  • 2008 Vitello ridser en bil
  • 2008 Vitello graver et hul
  • 2008 Vitello ønsker sig en hund
  • 2009 Jonna er 54
  • 2009 Vitello møder Gud
  • 2010 Vitello bygger en monsterfælde
  • 2010 Vitello napper en kat
  • 2010 Vitello skal have en papfar
  • 2010 Gerningsmænd
  • 2011 Babyen der ikke ville ud
  • 2011 Jeg begyndte sådan set bare at gå (novellesamling)
  • 2011 Paradis
  • 2011 I love you Danmark
  • 2013 Jeg Er William
  • 2016 Berørte Kathrine
  • 2018 Bådens navn roman om livet og kærligheden.

Kịch bản phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thorsen, Nils (ngày 6 tháng 9 năm 2009). “Kim Fupz: Rigtig høj bliver man aldrig af bifald”. Politiken (bằng tiếng Danish). Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  2. ^ a b “Forfatter: Grådighed er roden til alt det, vi bøvler med”. Kristeligt Dagblad (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 20 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2021.
  3. ^ Torben Weinreich (7 tháng 5 năm 2020). “Kim Fupz Aakeson”. Den Store Danske Encyklopædi. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2021.