Lê Mã Lương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Mã Lương
Chức vụ
Nhiệm kỳ2006 – 2011
Vị tríFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Thông tin chung
Danh hiệuAnh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân
Sinh1950 (68–69 tuổi)
Trung Thành, Nông Cống, Thanh Hóa
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp bậcVietnam People's Army Major General.jpg Thiếu tướng

Lê Mã Lương (sinh năm 1950) là một sĩ quan cấp cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu tướng Lê Mã Lương sinh ra ở Trung Thành, Nông Cống, Thanh Hóa trong một gia đình liệt sĩ, bố đã hy sinh trong trận chiến Điện Biên Phủ.

Ông tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi, từ 1968 đến năm 1974, Lê Mã Lương đã tham gia nhiều chiến dịch ác liệt ở đường 9 Nam Lào, Lao Bảo, Cửa Việt, Quảng Nam, Đà Nẵng… 20/9/1971, Lê Mã Lương vinh dự được tuyên dương Anh hùng quân đội khi mới 21 tuổi.

Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Lê Mã Lương còn tham gia chiến đấu chống nhóm kháng chiến dân tộc thiểu số FULRO tại Tây Nguyên, chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979. Sau đó, ông theo học khoa Sử, ĐH Tổng hợp Hà Nội, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, rồi được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu. Năm 2006, ông chính thức được Nhà nước phong hàm Thiếu tướng.[1].

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1971, ông là chính trị viên đại đội được ra Bắc học tại Học viện Chính trị rồi quen một cô giáo dạy cấp 2 người Hà Nội là Lê Thị Bích Đào. Hai người lấy nhau năm 1974. Cô con gái đầu sinh năm 1975, hiện đang sinh sống tại CHLB Đức cùng chồng và hai con gái. Cô con gái thứ hai hiện là họa sĩ trong quân đội. Còn cậu con trai út sinh năm 1986, hiện đang học cao học ngành tài chính kế toán bên Anh.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]