Lý Thông (Đông Hán)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lý Thông (chữ Hán: 李通, ? – 42), tên tựThứ Nguyên, người huyện Uyển, quận Nam Dương [1], là thành viên khởi nghĩa Lục Lâm, quan viên, tướng lĩnh, khai quốc công thần nhà Đông Hán, em rể của Hán Quang Vũ đế trong lịch sử Trung Quốc.

Tham gia khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Lý ở huyện Uyển, quận Nam Dương đời đời là đại tộc buôn bán nổi tiếng. Cha là Lý Thủ, mình dài 9 thước, dung mạo phi thường, làm người nghiêm nghị, nhà cửa to lớn như phủ quan. Ban đầu Thủ phụng sự Lưu Hâm, ham thích Tinh lịch, Sấm ký, làm đến Tông khanh sư nhà Tân. Thông cũng làm đến Ngũ uy tướng quân tòng sự, được bổ chức (huyện) Thừa, nổi tiếng có năng lực. Cuối đời Tân, trăm họ oán hận, Thông từng nghe Thủ nói về lời sấm rằng “họ Lưu phục hưng, họ Lý giúp đỡ”, trong lòng thường nghĩ ngợi; lại thấy gia đình giàu có, là hùng trưởng địa phương, vì thế không cam tâm làm Lại, tự từ chức về nhà.

Khi Hạ Giang, Tân Thị khởi nghĩa, Nam Dương xao động, Thông nghe theo em họ là Lý Dật, hưởng ứng anh em Lưu Diễn, Lưu Tú. Gặp lúc Lưu Tú đến Uyển, Thông nghe tin, bèn sai Dật đi đón. Lưu Tú cho rằng Thông là Sĩ quân tử nên cũng mến mộ, nhận lời đến gặp. Hai người nói chuyện cả ngày, cầm tay rất vui vẻ. Thông nhân đó nhắc đến lời sấm của Lý Thủ, nhưng Tú không dám thừa nhận. Bấy giờ Thủ đang ở Trường An, Tú tỏ ra lo lắng cho ông ấy, Thông đáp “Đã tự có sắp xếp rồi!” Hai người tiếp tục bàn kế hoạch khởi nghĩa, cùng nhau ước định rằng: vào ngày Tài quan tổng duyệt kỵ sĩ [2], sẽ bắt Tiền toại đại phu [3] và Chúc chánh [4], nhân đó kêu gọi mọi người nổi dậy. Thông bèn sai Dật đi cùng Lưu Tú về Thung Lăng, cất quân hưởng ứng; khiến cháu họ là Lý Quý đi Trường An, báo tin cho Thủ.

Quý bệnh mất trên đường, nhưng Thủ cũng biết được, nên muốn trốn về. Người cùng ấp với Thủ là Trung lang tướng Hoàng Hiển cho rằng dung mạo của Thủ khác thường, khó lòng trốn thoát, khuyên Thủ dâng thư nhận tội, may ra tránh được vạ. Thư chưa đến tay Tân đế Vương Mãng thì ý đồ khởi nghĩa bại lộ, Thông bỏ trốn, còn Thủ bị bắt vào ngục. Hoàng Hiển hết sức cầu xin cho Thủ, gặp lúc Tiền toại đại phu báo cáo hoạt động khởi nghĩa của Thông; Mãng nổi giận, muốn giết Thủ, Hiển lại cố xin, nên Mãng giết cả Thủ và Hiển. Cả nhà Thủ ở Trường An đều bị hại; quận Nam Dương cũng giết anh em và họ hàng của Thông 64 người, đều đốt thây ở chợ Uyển.

Bấy giờ các cánh nghĩa quân Lục Lâm tập hợp, Thông gặp lại Lưu Tú, Lý Dật ở Cức Dương, tham gia đánh phá quân Tiền toại, giết Đại phu Chân Phụ và Chúc chánh Lương Khâu Tứ.

Công danh trọn vẹn[sửa | sửa mã nguồn]

Canh Thủy đế lên ngôi (23), lấy Thông làm Trụ quốc đại tướng quân, Phụ Hán hầu. Thông theo xa giá đến Trường An (24), được thăng làm Đại tướng quân, phong Tây Bình vương. Canh Thủy đế sai Thông cầm cờ tiết về trấn thủ Kinh Châu, ông nhân đó lấy em gái của Lưu Tú là Lưu Bá Cơ làm vợ (về sau là Ninh Bình trưởng công chúa).

Quang Vũ đế lên ngôi (25), trưng Thông làm Vệ úy. Năm Kiến Vũ thứ 2 (26), được phong Cố Thủy hầu, bái làm Đại tư nông. Đế mỗi khi cầm quân chinh thảo, đều lệnh cho Thông ở lại kinh sư, trấn định trăm họ, sửa sang cung thất, khuyến khích việc học.

Mùa xuân năm thứ 5 (29), được thay Vương Lương làm Tiền tướng quân. Mùa hạ năm thứ 6 (30), lãnh bọn Phá gian tướng quân Hầu Tiến, Bộ lỗ tướng quân Vương Bá 10 doanh tấn công quân phiệt Duyên Sầm ở Hán Trung. Phiệt chúa Công Tôn Thuật ở đất Thục điều quân đến cứu, cùng Thông giao chiến ở Tây Thành; quân Hán phá được địch. Sau khi trở về, Thông tổ chức đồn điền ở Thuận Dương.

Bấy giờ Quang Vũ đế đã bình định phần lớn quần hùng, Thông muốn tránh vinh sủng, lấy cớ có bệnh, dâng thư xin nghỉ. Đế ban chiếu cho quần thần nghị luận, bọn Đại tư đồ Hầu Bá cho rằng Thông có công lớn, lại mất cả nhà vì nước, kiến nghị không nên cho nghỉ hẳn. Vì thế Thông được tạm nghỉ, có việc lại được gọi vào chầu. Mùa hạ năm ấy (30), được bái làm Đại tư không.

Thông áo vải khởi nghĩa, phù trợ nhà Hán, lại là em rể, nên đặc biệt được Quang Vũ đế gần gũi và trọng thị. Nhưng Thông tính khiêm cung, thường muốn tránh quyền thế. Thông vốn có bệnh Tiêu [5], từ khi làm Tể tướng, từ tạ có bệnh không coi việc. Năm nào Thông cũng xin Khất hài cốt, đế lại càng sủng ái, lệnh cho ông về nhà dưỡng bệnh, nhưng Thông vẫn cố từ chức. Qua 2 năm, Thông xin trả lại ấn Đại tư không, được làm Đặc tiến phụng triều thỉnh. Hữu tư tâu xin phong tước cho các hoàng tử, đế nhớ đến công bày mưu khởi nghĩa của Thông, ngay hôm ấy phong con nhỏ của ông là Hùng làm Triệu Lăng hầu. Mỗi lần trở về Nam Dương, đế đều sai sứ giả đem cỗ Thái lao đến cúng tế mộ của Lý Thủ.

Năm thứ 18 (42), Thông mất, thụy là Cung hầu. Đế cùng Âm hoàng hậu tự đến điếu và đưa tang. Trong niên hiệu Vĩnh Bình, Minh đế về Uyển, hạ chiếu cho con em họ Lý cùng tông thất ở An Chúng đến gặp, ban thưởng rất nhiều, ân sủng rất hậu.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha là Lý Thủ, bị nhà Tân giết.
  • Em họ là Lý Dật (bị Chu Vĩ giết), Lý Tùng, Lý Phiếm (đều bị nghĩa quân Xích Mi giết).
  • Vợ là Ninh Bình trưởng công chúa Lưu Bá Cơ
  • Con là Lý Âm (được kế tự), Lý Hùng (được phong Triệu Lăng hầu).
  • Thứ tự kế phong của Cố Thủy hầu quốc: Âm → Định → Hoàng → Thọ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là Nam Dương, Hà Nam
  2. ^ Nguyên văn: 材官都試騎士, Hán Việt: Tài quan đô thí kỵ sĩ. Tài quan là một trong các binh chủng của quân đội dự bị tại địa phương được thiết lập vào đời Tần, Hán. Hán thư – Hình pháp chí: “Thiên hạ đã định, noi theo nhà Tần mà đặt Tài quan ở quận quốc, kinh sư có đồn của quân Nam – Bắc.” Lý Hiền chú giải Hậu Hán thư dẫn Hán quan nghi: Cao Tổ mệnh thiên hạ quận quốc tuyển người có thể kéo được (nỏ) Quyết trương, tài lực vũ mãnh, để làm Khinh xa, Kỵ sĩ, Tài quan, Lâu thuyền, thường tổ chức giảng tập, khóa thí vào ngày Lập thu, đều có vài quan viên (cho mỗi binh chủng). Đất bằng dùng Xa – Kỵ, núi non dùng Tài quan, sông suối dùng Lâu thuyền.” (Nỏ Quyết trương là một loại cung nỏ có sức kéo lên đến 12 thạch, tầm bắn khoảng 600 bộ, được phát minh bởi người nước Hàn đời Chiến Quốc. Theo Chiến Quốc sách – Hàn sách 1, người nước Hàn giỏi bắn cung, nỏ nhất đương thời; cung, nỏ tốt nhất cũng do họ chế tạo ra. Quyết (蹶) nghĩa là Đạp; Trương (张) nghĩa là giương: ý nói nỏ quá cứng, người sử dụng phải dùng một chân đạp vào thân nỏ mới giương được.) Đô thí hay Đô thí kỵ sĩ là chế độ duyệt binh đời Hán, dùng để khảo thí võ nghệ, tiến hành vào ngày Lập thu. Nhan Sư Cổ chú giải Hán thư, dẫn chú giải của Như Thuần (thuộc Tấn Trung kinh, tức Cấp Trủng thư): “Thái thú, đô úy, lệnh – trưởng, thừa – úy, gặp đô thí, khóa điến tối.” (Khóa (课): thi, Điến (殿): kém, Tối (最): giỏi) Hồ Tam Tỉnh chú giải Tư trị thông giám, dẫn Sử ChiếuTư trị thông giám thích văn: “Gọi là tổng duyệt thí tập vũ bị đấy... Theo Hán chế, quận quốc lấy tháng 8 đô thí, duyệt vũ bị.” Lý Hiền chú giải Hậu Hán thư: “Hán pháp lấy ngày Lập thu đô thí kỵ sĩ, gọi là khóa điện tối đấy. Trạch Nghĩa tru Vương Mãng, lấy ngày đô thí tháng 9 kềm chế quan viên Xa kỵ, Tài quan là đấy.” (Cha con Trạch Phương Tiến, Trạch Nghĩa khởi nghĩa chống lại Vương Mãng; Xem Hậu Hán thư - Trạch Phương Tiến truyện.)
  3. ^ Quận Tiền toại đời Tân là quận Nam Dương; Đại phu tương đương với thái thú. Hán thư – Vương Mãng truyện trung: “Chia Tam Phụ làm 6 Úy quận, Hà Đông, Hà Nội, Hoằng Nông, Hà Nam, Dĩnh Xuyên, Nam Dương làm 6 Toại quận (队郡), đặt Đại phu, chức như Thái thú.” Nhan Sư Cổ chú giải: “队 (Hán Việt: Đội) âm là Toại.” Lý Hiền chú giải Hậu Hán thư: “Vương Mãng đặt 6 Toại, quận đặt Đại phu 1 người, chức như Thái thú. Nam Dương làm Tiền toại, Hà Nội làm Hậu toại, Dĩnh Xuyên làm Tả toại, Hoằng Nông làm Hữu toại, Hà Đông làm Triệu toại, Huỳnh Dương làm Kỳ toại.”
  4. ^ Chúc chánh đời Tân tương đương với Đô úy đời Hán
  5. ^ Nguyên văn: 消疾, Tiêu tật. Tố Vấn gọi là 消渴 (Tiêu Khát), Nội kinh gọi là 消瘅 (Tiêu Đản). Theo Trung y, bệnh Tiêu có các triệu chứng phổ biến là hay khát, hay đói, tiểu tiện nhiều, sụt cân nhanh; tương tự như bệnh tiểu đường ngày nay