Akizuki (lớp tàu khu trục) (1942)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Akizuki.jpg
Akizuki đang chạy thử nghiệm ở Vịnh Miyazu ngày 17 tháng 5 năm 1942.
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp Akizuki
Xưởng đóng tàu:
Bên sử dụng: Hải quân Đế quốc Nhật Bản

 Trung Hoa Dân Quốc

 Hải quân Liên Xô
Lớp con:Lớp Akizuki (Pr. F51A)

Lớp Fuyutsuki (Pr. F51B)
Lớp Michitsuki (Pr. F53)

Lớp Chou-Akizuki (Pr. V7, dự án)
Chi phí:12,090,000 JPY năm 1939

17,820,400 JPY năm 1941

19,194,000 JPY năm 1942
Thời gian đóng:1940–1945
Thời gian hoạt động:1942–1945 (IJN)
Dự tính:6 (1939) + 10 (1941) + 23 (1942)
Hoàn tất:12
Hủy bỏ:27
Bị mất:6
Nghỉ hưu:6
Đặc điểm khái quát (theo Whitley[1])
Kiểu: Khu Trục Hạm
Trọng tải choán nước:

2.700 tấn Anh (2.743 t) chuẩn

3.700 tấn Anh (3.759 t) tối đa
Độ dài: 134,2 m (440 ft 3 in) toàn thể
Sườn ngang: 11,6 m (38 ft 1 in)
Mớn nước: 4,15 m (13 ft 7 in)
Động cơ đẩy:
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (38 mph; 61 km/h)
Tầm xa: 8.000 nmi (15.000 km) với vận tốc 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:

263 (Akizuki năm 1942)

315 (Akizuki vào tháng 10 năm 1944)
Vũ trang:

Akizuki năm 1942[2]

Suzutsuki in tháng 4 năm 1945[3]

Khu trục lớp Akizuki (秋月型駆逐艦 Akizuki-gata Kuchikukan?) là một trong những lớp tàu khu trục của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) sau năm 1942. Hải quân Nhật gọi chúng là Khu Trục loại B (乙型駆逐艦, Otsu-gata Kuchikukan?) và được thiếc kế để chống máy bay, tàu ngầm và các loại tàu nhỏ hơn(Tàu phóng lôi,v.v.).

Lớp Akizuki được coi là lớp khu trục hữu dụng nhất được hải quân Nhật sử dung trong Thế chiến thứ 2 và được tín dụng trong nội bộ IJN.[1] Chúng mang pháo cao xạ 100 mm/65 Loại 98 gắn trên bốn tháp đôi. Chúng cũng là một trong những chiếc tàu đầu tiên của Nhật được gắn ra đa. Tuy nhiên, so với các thiết kế khu trục khác của Nhật, lớp Akizuki mang ít ngư lôi hơn với chỉ một bộ phóng bốn ống cùng đạn nạp so với hai bộ của các thiết kế khác. Bù lại các chiếc Akizuki mang hỏa lực phòng không tốt hơn với bốn tháp pháo thay vì ba tháp của các lớp kia và sử dụng súng có cỡ nòng nhỏ hơn nhưng có gia tốc nòng lớn hơn.

Các chiếc thuộc lớp FuyutsukiMichitsuki là phiên bản tĩnh giản nhằm tăng tốc độ đóng tàu.

Bốn chiếc thuộc lớp này bị dùng làm phần thưởng chiến tranh cho các nước thắng trận.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Các tàu lớp Akizuki ban đầu được thiết kế làm tàu hộ tống phòng không cho các nhóm tác chiến tàu sân bay của Nhật, nhưng đã được sửa đổi thêm ống phóng ngư lôimìn sâu để đáp ứng nhu cầu cho tàu khu trục đa năng hơn. Thủy thủ đoàn của mỗi tàu bao 300 sĩ quan và thủy thủ. Các tàu dài 134,2 mét (440 ft 3 in) tổng thể, với ngang 11,6 mét (38 ft 1 in) và có đáy cao 4,15 mét (13 ft 7 in).[4] Chúng có trọng tải choãn nước 2.744 tấn (2.701 tấn Anh) ở mức tải tiêu chuẩn và 3.759 tấn (3.700 tấn Anh) ở tải sâu.[5]

Con tàu có hai tua bin hơi nước có khớp Kampon với mỗi tua bin quay một cánh quạt trục. Chúng sử dụng hơi nước được cung cấp bởi ba nồi hơi ống nước Kampon. Tua bin được đánh giá ở mức tổng cộng 52.000 mã lực chỉ (39.000 kW) cho tốc độ thiết kế 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph).Con tàu chở tới 1.097 tấn Anh (1.115 t) dầu nhiên liệu cho chúng tầm hoạt động khoảng 8.300 hải lý (15.400 km; 9.600 mi) ở vận tốc 18 hải lý một giờ (33 km/h; 21 mph).[6]

Vũ khí chính của lớp Akizuki bao gồm tám khẩu 100mm mẫu 98 súng hai mục đích trong bốn tháp pháo đôi, hai cặp bắn trênh phía trước và sau của cấu trúc thượng tầng. Chúng mang bốn khẩu súng phòng không 25mm mẫu 96 trong hai bệ đôi. Các con tàu cũng được trang bị bốn ống phóng ngư lôi 610 milimét (24,0 in) trong một tháp bốn ống duy nhất kèm theo đạn nạp cho mỗi ống. Vũ khí chống tàu ngầm của chúng bao gồm sáu máy phóng mìn sâu với 72 quả mìn sâu được mang theo.[7]

Sơ bộ lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sáu tàu trong lớp này được đặt hàng trong kế hoạch Maru 4 vào năm 1939. Mười tàu nữa được đặt trong kế hoạch Maru 9 vào năm 1941 nhưng chỉ một tàu được đặt lườn trước khi tất cả các tàu bị hủy bỏ để thay bằng lớp FuyutsukiMichitsuki nhằm giảm thiểu thời gian sản xuất.

16 tàu của một phiên bản sửa đổi nữa được đặt trong Chương trình bổ sung quân bị hải quân thứ nắm sửa đổi vào năm 1942 với 22 chiếc nữa được tính sẽ được đặt trong trương trình tiếp theo nhưng tất cả đều bị hủy trước khi việc đóng tàu có thể bắt đầu.

Chỉ sáu tàu sống sót sau cuộc chiến với bốn tàu được dùng làm phần thưởng chiến tranh cho các nước thắng trận.

Các tàu trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Phân lớp Akizuki[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án số F51A. Phiên bản chính của lớp Akizuki. Bảy chiếc được đóng theo kế hoạch bổ sung quân bị Hải quân thứ tư (Tàu số 104-109) và Kế hoạch bổ sung quân bị hải quân cấp tốc (Tàu số 360).

Số hiệu Tàu Xưởng Đóng Hạ Lườn Hạ thủy Hoàn thành Số phận
104 Akizuki (秋月)

(Thu Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru 30 tháng 6 năm 1940 2 tháng 7 năm 1941 11 tháng 6 năm 1942 Chìm trong trận chiến ngoài khơi mũi Engaño 25 tháng 10 năm 1944. Loại khỏi đăng bạ vào ngày 10 tháng 12 năm 1944.
105 Teruzuki (照月)

(Chiếu Nguyệt)

Mitsubishi, Cảng Nagasaki 13 tháng 11 năm 1940 21 tháng 11 năm 1941 31 tháng 8 năm 1942 Bị hư hỏng nặng bởi USS PT-37 and PT-40đảo Savo vào 11 tháng 12 năm 1942. Bị làm chìm vào 12 tháng 12 năm 1942. Loại khỏi đăng bạ on 20 tháng 1 năm 1943.
106 Suzutsuki (涼月)

(Lương Nguyệt)

Mitsubishi, Cảng Nagasaki 15 tháng 3 năm 1941 3 tháng 3 năm 1942 29 tháng 12 năm 1942 Sống sót qua cuộc chiến tại Sasebo.Cho ngừng hoạt động vào 20 tháng 11 năm 1945. Cải tạo thành đê chắn sóng tại Kitakyūshū vào tháng 7 năm 1948.
107 Hatsuzuki (初月)

(Sơ Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru 25 tháng 7 năm 1941 3 tháng 4 năm 1942 29 tháng 12 năm 1942 Chìm trong trận chiến ngoài khơi mũi Engaño 25 tháng 10 năm 1944. Loại khỏi đăng bạ vào ngày 10 tháng 12 năm 1944.
108 Niizuki (新月)

(Tân Nguyệt)

Mitsubishi, Cảng Nagasaki 8 Tháng 12 1941 29 Tháng 6 1942 31 Tháng 3 1943 Chìm trong Trận Vịnh Kula vào 6 tháng 7 năm 1943. Loại khỏi đăng bạ vào 10 tháng 9 năm 1943.
109 Wakatsuki (若月)

(Nhã Nguyệt)

Mitsubishi, Cảng Nagasaki 9 Tháng 3 1942 24 tháng 11 năm 1942 31 tháng 5 năm 1943 Chìm trong Trận chiến vịnh Ormoc vào 11 tháng 11 năm 1944. Loại khỏi đăng bạ on 10 tháng 1 năm 1945.
360 Shimotsuki (霜月)

(Sương Nguyệt)

Mitsubishi, Cảng Nagasaki 6 tháng 7 năm 1942 7 tháng 4 năm 1943 31 tháng 3 năm 1944 Bị đánh chìm bởi USS Cavalla ngoài khơi đảo Anambas 02°21′B 107°20′Đ / 2,35°B 107,333°Đ / 2.350; 107.333 vào 25 tháng 11 năm 1944. Loại khỏi đăng bạ on 10 tháng 1 năm 1945.

Phân lớp Fuyutsuki[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án số F51B. Phân lớp Fuyutsuki ban đầu được dự tính sẽ đóng như phân lớp Akizuki nhưng việc đóng tàu cuối cùng phải được đơn giản hoá. 4 chiếc được đóng theo Kế hoạch bổ sung quân bị hải quân cấp tốc (Tàu số 361-364). So với dòng Akizuki chính, các chiếc Fuyutsuki có thiết kế mũi tàu đơn giản hơn, tháo cabin ở đuôi tàu và gắm vào cửa dẫn khí hai chiều cho các lò hơi. Chưa hài lòng với các sửa đổi trên, Hải quân Nhât tiếp tục đưa thêm điều chình nữa vào thiết kế dẫn đến phân lớp Michitsuki.

Số hiệu Tàu Xưởng Đóng Hạ Lườn Hạ thủy Hoàn thành Số phận
361 Fuyutsuki[8][9] (冬月)

(Đông Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru 8 tháng 5 năm 1943 20 tháng 1 năm 1944 25 tháng 5 năm 1944 Sống sót qua cuộc chiến tại Kitakyūshū.Cho ngừng hoạt động vào 20 tháng 11 năm 1945. Cải tạo thành đê chắn sóng tại Kitakyūshū vào tháng 7 năm 1948.
362 Harutsuki (春月)

(Xuân Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Sasebo 23 tháng 12 năm 1943 3 tháng 8 năm 1944 28 tháng 12 năm 1944 Sống sót qua cuộc chiến tại Kure. Cho ngừng hoạt động vào 5 tháng 10 năm 1945. Giao cho Liên Xô vào 28 tháng 8 năm 1947, đổi tên thành Vnezapniy (Внезапный, "Đột Ngột").
363 Yoizuki (宵月)

(Tiêu Nguyệt)

Công ty cảng Uraga 25 tháng 8 năm 1943 25 tháng 9 năm 1944 31 tháng 1 năm 1945 Sống sót qua cuộc chiến tại Nōmi. Cho ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945. Giao cho Trung Hoa Dân Quốc vào 29 tháng 8 năm 1947, đổi tên thành Phần Dương. Tháo dỡ năm 1963.
364 Natsuzuki (夏月)

(Hạ Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Sasebo 1 tháng 5 năm 1944 2 tháng 12 năm 1944 8 tháng 4 năm 1945 Sống sót qua cuộc chiến tại Kitakyūshū. Cho ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945. Giao cho Vương quốc Anh vào 25 tháng 8 năm 1947. Bán và tháo dỡ tại Uraga từ tháng 9 năm 1947-tháng 3 năm 1948.

Phân lớp Michitsuki[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án số F53. Phiên bản sản xuất cuối cùng của lớp Akizuki. Tĩnh giản hơn so với lớp Fuyutsuki. Chuyển thể từ 5 chiếc trong Kế hoạch bổ sung quân bị hải quân cấp tốc (Tàu số 365-369) và 16 chiếc từ theo kế hoạch bổ sung quân bị Hải quân thứ năm (Tàu số 770-785 được đặt lại thành số 5061-5076). Chỉ có 1 chiếc được hoàn thành.

Số hiệu Tàu Xưởng Đóng Hạ Lườn Hạ thủy Hoàn thành Số phận
365 Michitsuki[10][11] (満月)

(Danh Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Sasebo 3 tháng 1 năm 1945 16% hoàn thành, thi công ngừng vào 17 tháng 4 năm 1945. Tháo dỡ 28 tháng 2 năm 1948.
366 Hanazuki (花月)

(Hoa Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru 10 tháng 2 năm 1944 10 tháng 10 năm 1944 26 tháng 12 năm 1944 Sống sót qua cuộc chiến tây Biển nội địa Seto. Cho ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945. Giao cho Hoa Kỳ vào 29 tháng 8 năm 1947 and đổi tên thành DD-934. Dùng làm mục tiêu ngoài Quần đảo Gotō từ 3 tháng 1948.[12]
367 Kiyotsuki (清月?)

(Thanh Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru Hủy bỏ 14 tháng 12 năm 1944.
368 Ōtsuki (大月?)

(Đại Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Sasebo
369 Hazuki (葉月?)

(Diệp Nguyệt)

Xưởng Hải Quân Maizuru
5061


5062


5063


5064


5065

Yamazuki (山月?)
(Sơn Nguyệt)

Urazuki (浦月?)
(Phổ Nguyệt)
Aogumo (青雲?)
(Thanh Vân)
Benigumo (紅雲?)
(Hồng Vân)
Harugumo (春雲?)
(Xuân Vân)

5066

-

5076

Amagumo (天雲?)
(Thiên Vân)
Yaegumo (八重雲?)
(Trùng Vân)
Fuyugumo (冬雲?)
(Đông Vân)

Yukigumo (雪雲?)
(Tuyết Vân)
Okitsukaze (沖津風?)
(Trùng Tân Phong)
Shimokaze (霜風?)
(Sương Phong)
Asagochi (朝東風?)
(Triêu Đông Phong)
Ōkaze (大風?)
(Đại Phong)
Kochi (東風?)
(Đông Phong)
Nishikaze (西風?)
(Tây Phong)
Hae (南風?)
(Nam Phong)

Hủy bỏ vào 9 June 1944.

Chou-Akizuki[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án số V7. Phiên bản tốc độ cao của lớp Akizuki.Chỉ là dự án trên giấy tờ. 16 chiếc được dự kiến cho kế hoạch bổ sung quân bị Hải quân thứ năm (Maru-Go Keikaku) (Tàu số 770-785) và 7 tàu được chuyển thể từ Lớp Shimakaze cải tiến dưới (Maru-Go-Kai Keikaku) (Tàu số 733-748 thành Tàu số 5077-5083).

Số hiệu Tàu Xưởng Đóng Hạ Lườn Hạ thủy Hoàn thành Số phận
770-785 16 tàu khu trục chuyển thể thành lớp Akizuki thường (các chiếc Michitsuki, tàu số 5061-5076) từ 30 tháng 1942.
5077-5083 Kitakaze (北風?)
(Bắc Phong)
Hayakaze (早風?)
(Tảo Phong)
Natsukaze (夏風?)
(Hạ Phong)
Fuyukaze (冬風?)
(Đông Phong)
Hatsunatsu (初夏?)
(Sơ Hạ)
Hatsuaki (初秋?)
(Sơ Thu)
Hayaharu (早春?)
(Tảo Xuân)
Hủy bỏ vào 9 June 1944.

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. tr. 204. ISBN 1-85409-521-8. 
  2. ^ “Rekishi Gunzō”. , History of the Pacific War Vol.23 Akizuki class destroyer, Gakken (Japan), 1999, ISBN 4-05-602063-9
  3. ^ The Maru Special, Japanese Naval Vessels No.19 Destroyer Asashio class/Akizuki class, Ushio Shobō (Japan), 1978, Book code 8343-7
  4. ^ Chesneau, p. 195
  5. ^ Whitley, p. 204
  6. ^ Jentschura, Jung & Mickel, p. 150
  7. ^ Whitley, pp. 204–05
  8. ^ 1 October 1943, Administrative order No. 235, Named one destroyer, two submarines, one coast defence ship, two minesweepers, and one submarine chaser., Minister's Secretariat, Ministry of the Navy.
  9. ^ National Archives of Japan, Reference code: C12070120400, October (1) p.1.
  10. ^ 5 February 1945, Administrative order No. 22, Named four destroyers, one submarine, and six coast defence ships., Minister's Secretariat, Ministry of the Navy.
  11. ^ National Archives of Japan, Reference code: C12070510100, February (1) p.44.
  12. ^ Pike, John (27 tháng 4 năm 2005). “globalsecurity.org”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]