Laundry Service

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Laundry Service
Album phòng thu của Shakira
Phát hành 13 tháng 11, 2001
11 tháng 3, 2002
Thu âm 2001[1] tại Crescent Moon Studios, Criteria Recording Studios, Miami, FloridaCompass Point Studios, Nassau, Bahamas.
Thể loại Pop rock, Latin, worldbeat
Thời lượng 49:06
Hãng đĩa Epic Records
Sản xuất Shakira, Emilio Estefan Jr. (Executive)
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Shakira
¿Dónde Están los Ladrones?
(1998)
Laundry Service
(2001)
Fijación Oral Vol. 1
(2005)
Bìa album thay thế
Servicio de Lavandería - Laundry Service phiên bản Tây Ban Nha
Laundry Service: Washed and Dried - Phiên bản đặc biệt giới hạn
Đĩa đơn từ Laundry Service
  1. "Whenever, Wherever / Suerte"
    Phát hành: 18 tháng 12 năm 2001
  2. "Underneath Your Clothes"
    Phát hành: 18 tháng 3 năm 2002
  3. "Te Dejo Madrid"
    Phát hành: 24 tháng 4 năm 2002
  4. "Objection (Tango) / Te Aviso, Te Anuncio (Tango)"
    Phát hành: 12 tháng 6 năm 2002
  5. "Que Me Quedes Tú"
    Phát hành: 15 tháng 8 năm 2002
  6. "The One"
    Phát hành: 8 tháng 10 năm 2002

Laundry Service (tạm dịch: Dịch vụ giặt ủi) là một album phòng thu tiếng Anh đầu tiên của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Colombia Shakira, phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2001 bởi hãng Epic Records và được cô thu âm trong thời gian gần hai nămUruguayBahamas. Tuy phần lớn các ca khúc từ Laundry Service sử dụng ngôn ngữ Latin Châu Âu, nhưng album vẫn còn chứa bốn bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Âm nhạc trong Laundry Service được tổng hợp từ rất nhiều thể loại khác nhau và chịu ảnh hưởng nhiều bởi nền văn hóa Nam Mỹ, BritpopRock and roll Hoa Kỳ, album được đánh giá tích cực nhưng lại vấp phải sự phản đối tiêu cực từ phía người hâm mộ dòng nhạc Latin, họ cho rằng Shakira dường như đã từ bỏ bản chất vốn có của Latin để chuyển sang nền âm nhạc đương đại pop người Mỹ. Tuy vậy nhưng Laundry Service vẫn giành được hàng chục giải thưởng âm nhạc lớn nhỏ trên toàn thế giới, trong đó có một giải Grammy Latin ở hạng mục Video hình thái ngắn xuất sắc nhất.

Album đã lọt vào tốp ba ở cả hai bảng xếp hạng tại Hoa KỳVương Quốc Anh (sau khi phát hành lại, Laundry Service leo lên đến vị trí thứ hai tại Anh). "Whenever, Wherever", đĩa đơn đầu tiên được trích từ album, lần đầu tiên được biết đến ở ColombiaHoa Kỳ vào cuối tháng 8 năm 2001 và ngay lập tức trở thành ca khúc được yêu thích nhất mọi thời đại tại hai vùng lãnh thổ này. Sau đó, bài hát đã giành vị trí quán quân các bảng xếp hạng tại hơn 30 quốc gia trong thời gian hơn 6 tháng, cuối cùng trở thành đĩa đơn bán chạy nhất năm 2002 trên toàn thế giới. Shakira bắt đầu quảng cáo tạo tiếng vang cho album tại Colombia, Tây Ban Nha vào tháng 10 năm 2001 và sau đó cô trở về Mỹ để chuẩn bị cho việc phát hành Laundry Service tại thị trường tiêu thụ béo bở này (vào ngày 13 tháng 11 năm 2001). Ngoài ra, trong album còn có thêm ba đĩa đơn quốc tế là "Underneath Your Clothes" (Mỹ # 9), Objection (Tango)The One đã giúp cho Shakira trở thành một nghệ sĩ thành công thực thụ trên toàn thế giới. Đến thời điểm này, lần đầu tiên Shakira mới được mời xuất hiện trong một số chương trình truyền hình Mỹ và cô tiếp tục chiến dịch quảng cáo album của mình tại Châu Âu, Nam MỹChâu Á đến tận tháng 7 năm 2002 cũng như trong chuyến lưu diễn đầu tiên của cô mang tên Tour of the Mongoose. Đến nay, Laundry Servicealbum bán chạy nhất của Shakira với doanh số tiêu thụ hơn 13 triệu bản trên toàn thế giới.[2]

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của ¿Dónde Están los Ladrones?MTV Unplugged, Shakira quyết định bắt tay thực hiện một album mới tạo bước ngoặt phá vỡ thị trường tiếng Anh vào năm 2000. Ban đầu Laundry Service dự định bao gồm có cả những ca khúc cũ. Tuy nhiên, Shakira đi đến quyết định cuối cùng là không chuyển thể các bài hát này sang tiếng Anh nữa mà làm việc trong một năm với một chất nhạc hoàn toàn mới.

Một tháng trôi qua kể từ lúc thông báo, phần lớn album đã được sản xuất bởi Shakira, chịu trách nhiệm các ca khúc chính là Tim MitchellLester Mendez. Shakira tiến hành thu âm tại Miami, FloridaNassau, Bahamas trong phòng thu Compass Point Studios. Cô làm việc với nhiều nhà sản xuất danh tiếng như Glen BallardLuis F. Ochoa.

Album đến nay đã cho ra đời bảy ca khúc: "Suerte (Whenever, Wherever)", "Underneath Your Clothes", "Te Dejo Madrid", "Objection (Tango)", "Te Aviso, Te Anuncio (Tango)", "The One" và "Que Me Quedes Tú". "Fool" (chỉ phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Brasil) và "Poem To A Horse" được tung ra là ca khúc chính trong album lưu diễn Live & Off the Record vào năm 2004. Laundry Service thành công lớn trên toàn thế giới khi tiêu thụ được 13 triệu bản.

Phát hành và đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà phê bình đã chỉ trích và có ấn tượng không tốt về ca từ của Shakira, họ khẳng định rằng với trình độ tiếng Anh hiện tại, cô không đủ khả năng để viết lời cho các bài hát. Đáng chú ý nhất là tạp chí Rolling Stone đưa ra nhận định "cô ấy thực sự ngớ ngẩn" và "Shakira đã mất đi phép màu của mình ", nhưng tất cả đều phải công nhận hình tượng bay bổng độc nhất mà Shakira đã tạo dựng được trong album này. Laundry Service phát hành tại Hoa Kỳ vào ngày 13 tháng 11, 2001. Album có sự mở đầu ở vị trí thứ 3 trên Billboard 200 khi doanh số bán ra trong tuần đầu tiên đã nằm ngoài con số 202.000 bản, vượt xa sự mong đợi với lợi nhuận ngày càng tăng [3]. Cuối cùng trụ lại tốp 20 trong 6 tháng, nhờ thành công của hai đĩa đơn đầu. Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ đã chứng nhận ba lần album bạch kim vào tháng 6 năm 2002 là một trong những album bán chạy nhất của năm.

Tại Australia, album đạt đĩa bạch kim với trên 35.000 bản tiêu thụ. Cũng tại đây, Laundry Service được công nhận năm lần album bạch kim khi doanh số vượt 350,000 bản. Album lọt vào bảng xếp hạng UK Albums Chart, sau đó đã leo lên đến vị trí thứ 2 và được chứng nhận hai lần album bạch kim với doanh số tiêu thụ vượt trên con số 697.000 bản. Sau khi phát hành tại Bồ Đào Nha, album giành vị trí quán quân trong 2 tháng liên tiếp đồng thời nhận được bốn lần album bạch kim (trên 160.000 đĩa), sau đó tụt xuống tốp 30, tốp 70 trong những tuần kế tiếp. Đồng thời album cũng được chứng nhận là bản thu âm bán chạy nhất tại Thổ Nhĩ Kì.

Ngay tuần đầu tiên sau khi phát hành, Laundry Service đã giành được thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng, ảnh hưởng từ sự thành công của ca khúc "Whenever, Wherever" khi lọt vào top ten của Billboard Hot 100, thứ nhất tại Australia và thứ nhì tại Anh. Trong đó trên Australian Singles Charts, bài hát duy trì được thứ hạng này trong 6 tuần liên tiếp và trở thành đĩa đơn bán chạy thứ 2 của năm. Và tại Anh, ca khúc này leo lên đến vị trí thứ 8 về doanh số tiêu thụ (trên 554.754 bản) đồng thời đạt được đĩa vàng.

Cuối cùng Laundry Service trở thành một trong những album bán chạy nhất năm 2002 (3x bạch kim từ RIAA vào tháng 6 2002). Album thành công vang dội khi giành được vị trí quán quân tại rất nhiều quốc gia chẳng hạn như Australia, Áo, Canada, Mexico, New Zealand, Hà Lan, Thuỵ ĐiểnThuỵ Sĩ. Và còn thêm cả vị trí thứ 2 trên United World Chart (Bảng xếp hạng âm nhạc thế giới). Với thành công này, album đã giúp công nhận sự hiện diện âm nhạc của Shakira trên thị trường Bắc Mỹ.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Album được phát hành tại Châu Mỹ Latinh với tựa đề Servicio de Lavandería (chuyển thể sang tiếng Tây Ban Nha), các bài hát vẫn giữ nguyên, nhưng được sắp xếp lại. Sau đó, ca khúc "Objection (Tango)" được ra đời như một minh chứng cho sự giận dữ của Shakira khi cô bị phản bội trong tình yêu. Đây là bài hát đầu tiên của Shakira sáng tác bằng tiếng Anh. Tất cả ca khúc đều lấy nguyên gốc trừ Eyes Like Yours, được viết lại lời Anh từ hit nổi tiếng toàn thế giới Ojos Así (1999), mang màu sắc Ả-rập. Mặc dù cơ bản là tiếng Anh nhưng album vẫn bao gồm 4 bài hát tiếng Tây Ban Nha.

Năm 2002, Sony BMG phát hành lại album với một phiên bản mới mang tên Laundry Service: Washed and Dried. Trong đó xuất hiện thêm 3 bài hát mới cùng đĩa DVD bao gồm cả video "Objection (Tango)" Shakira biểu diễn trong lễ trao giải MTV Video Music Awards, phía sau chương trình Making the Video của MTVvideo chính thức.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Các ca khúc đều được sản xuất bởi Shakira.

Phiên bản chính thức
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Objection (Tango)"   Shakira 3:42
2. "Underneath Your Clothes"   Shakira, Lester Mendez 3:44
3. "Whenever, Wherever"   Shakira, Tim Mitchell, Gloria Estefan 3:16
4. "Rules"   Shakira, L. Mendez 3:39
5. "The One"   Shakira, Glen Ballard 3:42
6. "Ready For The Good Times"   Shakira, L. Mendez 4:13
7. "Fool"   Shakira, Brendan Buckley 3:50
8. "Te Dejo Madrid"   Shakira, T. Mitchell, G. Noriega 3:06
9. "Poem To A Horse"   Shakira, Luiz F. Ochoa 4:06
10. "Que Me Quedes Tú"   Shakira, Luiz F. Ochoa 4:47
11. "Eyes Like Yours" ((Ojos Así)) G. Estefan, Shakira, J. Garza, P. Flores 3:56
12. "Suerte (Whenever, Wherever)"   Shakira, T. Mitchell 3:16
13. "Te Aviso, Te Anuncio (Tango)"   Shakira 3:43


Servicio De Lavandería (Phiên bản tại Tây Ban Nha và Mỹ Latinh)[5]
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Suerte (Whenever, Wherever)"   3:16
2. "Underneath Your Clothes"   3:44
3. "Te Aviso, Te Anuncio (Tango)"   3:43
4. "Que Me Quedes Tú"   4:47
5. "Rules"   3:39
6. "The One"   3:42
7. "Ready For The Good Times"   4:13
8. "Fool"   3:50
9. "Te Dejo Madrid"   3:06
10. "Poem To A Horse"   4:06
11. "Eyes Like Yours (Ojos Así)"   3:56
12. "Whenever, Wherever"   3:16
13. "Objection (Tango)"   3:42

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2001) Vị trí cao nhất
[6][7]
Chứng nhận Doanh số tiêu thụ
Flag of Argentina.svg Argentina Album Chart 1 2x Bạch kim[8] 80,000
Flag of Australia.svg Australian Albums Chart 1 5x Bạch kim[9] 350,000
Flag of Austria.svg Austria Album Chart 1 2x Bạch kim[10] 80,000
Flag of Belgium (civil).svg Belgian Albums Chart (Flanders) 1 Bạch kim 50,000
Flag of Belgium (civil).svg Belgian Albums Chart (Wallonia) 5
Flag of Brazil.svg Brazilian Albums Chart 6 Vàng [11] 100,000
Flag of Canada.svg Canadian Albums Chart 1 5x Bạch kim[12] 500,000
Flag of Colombia.svg Colombia Album Chart 1 12x Bạch kim (Kim Cương) 950,000
Flag of Denmark.svg Danish Albums Chart 3 Bạch kim 30,000
Flag of Europe.svg European Top 100 Albums 1 4x Bạch kim 4,900,000
Flag of Finland (bordered).svg Finnish Albums Chart 1 3x Bạch kim[13] 90,140
Flag of France.svg French Albums Chart 5 2x Bạch kim 700,000
Flag of Germany.svg German Albums Chart 2 5x Vàng[14] 750,000 [15]
Flag of Greece.svg Greek Albums Chart 1 Bạch kim[16] 30,000
Flag of Hungary.svg Hungarian Albums Chart 1 Bạch kim[17] 15,000
Flag of Egypt.svg Egyptian Album Chart 1 75x Bạch kim 375,000
Flag of Italy.svg Italian Albums Chart 2 2x Bạch kim 160,000
Flag of Mexico.svg Mexican Albums Chart 1 2x Bạch kim 300,000
Flag of the Netherlands.svg Dutch Albums Chart 1 2x Bạch kim 160,000
Flag of New Zealand.svg New Zealand Albums Chart 4 3x Bạch kim 45,000
Flag of Norway.svg Norwegian Albums Chart 1 Bạch kim 40,000
Flag of Poland.svg Polish Albums Chart 1 Bạch kim[18] 40,000
Flag of Portugal.svg Portuguese Albums Chart 1 4x Bạch kim 200,000
Flag of Russia.svg Russian Album Chart 1 5x Bạch kim[19] 100,000
Flag of Spain.svg Spanish Albums Chart 1 5x Bạch kim[20] 500,000
Flag of Sweden.svg Swedish Albums Chart 1 Bạch kim 60,000
Flag of Switzerland.svg Swiss Albums Chart 1 5x Bạch kim[21] 200,000
Flag of England (bordered).svg UK Albums Chart 2 2x Bạch kim[22] 800,000
Flag of the United States.svg US Billboard 200 3 3x Bạch kim[23] 3,700,000

Một số giải thưởng quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
2002 Giải Latin Grammy Video âm nhạc xuất sắc nhất - Suerte Đoạt giải
Ca khúc nhạc rock hay nhất - Suerte Đề cử
Giải Premio MTV Latinoamérica Video của năm - Suerte Đoạt giải
Giải RitmoLatino music awards Video âm nhạc xuất sắc nhất - Whenever, Wherever Đoạt giải
Giải MuchMusic Video Awards Khán giả bình chọn: Nghệ sĩ quốc tế được yêu thích nhất - Whenever, Wherever Đoạt giải
Video âm nhạc của nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất - Whenever, Wherever Đoạt giải
Giải MTV Video Music Awards Sự lựa chọn của khán giả ngoài nước - Suerte Đoạt giải
Giải NRJ Music Awards Ca khúc quốc tế của năm - Whenever, Wherever Đoạt giải
Album của năm - Laundry Service Đoạt giải
Giải Premios Oye Album Latin Pop xuất sắc nhất - Laundry Service Đoạt giải
Album ngôn ngữ Tiếng Anh xuất sắc nhất - Laundry Service Đoạt giải

Tham khảo - Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.ew.com/ew/article/0,,277730,00.html
  2. ^ Shakira’s Songs Are the Heart of Her Success BMI.com
  3. ^ Garth's 'Scarecrow' Shoots Straight To No. 1 Billboard magazine.
  4. ^ [1]
  5. ^ http://www.mixup.com.mx/mixup/Product.aspx?sku=7509949872028
  6. ^ World Peaks I Swisscharts.com. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2008.
  7. ^ Chart Positions US CA: Laundry Service allmusic. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2008.
  8. ^ “Representando a la Industria Argentina de la Música”. CAPIF. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  9. ^ http://www.aria.com.au/pages/aria-charts-accreditations-albums-2002.htm
  10. ^ [2] Ifpi Austria.
  11. ^ [3]
  12. ^ “Canadian Recording Industry Association (CRIA): Certification Results”. Cria.ca. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  13. ^ Finnish certifications
  14. ^ “Bundesverband Musikindustrie: Gold/Platin-Datenbank”. Musikindustrie.de. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. [liên kết hỏng]
  15. ^ http://www.musikindustrie.de/gold_platin0/
  16. ^ IFPI Greece, International Albums chart archive
  17. ^ “Arany- és platinalemezek”. mahasz.hu. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  18. ^ “Związek Producentów Audio-Video:: Polish Society of the Phonographic Industry”. Zpav.pl. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. [liên kết hỏng]
  19. ^ http://2m-online.ru/news/detail.php?ID=5556&phrase_id=19008
  20. ^ “Top 100 álbumes” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). media control. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  21. ^ Steffen Hung. “The Official Swiss Charts and Music Community”. Swisscharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  22. ^ “Certified Awards Search”. BPI. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  23. ^ RIAA

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]