Lorik Cana

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lorik Cana
FBBP01 - FCN - 20151028 - Coupe de la Ligue - Lorik Cana.jpg
Lorik Cana với Nantes năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Lorik Agim Cana
Ngày sinh 27 tháng 7, 1983 (36 tuổi)
Nơi sinh Pristina, CHXHCN Liên bang Nam Tư
Chiều cao 1,86 m
Vị trí Trung vệ, Tiền vệ phòng ngự,
Tiền vệ trung tâm
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1997–2000 FC Dardania Lausanne
2000–2001 Paris Saint-Germain
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2000–2003 Paris Saint-Germain B 39 (2)
2002–2005 Paris Saint-Germain 69 (2)
2005–2009 Marseille 122 (6)
2009–2010 Sunderland 31 (0)
2010–2011 Galatasaray 24 (1)
2011–2015 Lazio 82 (4)
2015–2016 Nantes 21 (0)
Tổng cộng 388 (15)
Đội tuyển quốc gia
2003–2016 Albania 92 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến ngày 9 tháng 4 năm 2016
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến ngày 19 tháng 6 năm 2016

Lorik Agim Cana (phát âm tiếng Albania: [ˈlɔɾik ˈtsana]; sinh ngày 27 tháng 7 năm 1983) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Albania. Anh hiện là đại sứ cấp cơ sở cho bóng đá trẻ em ở Albania, được Hiệp hội bóng đá Albania đặt tên vào ngày 26 tháng 10 năm 2017.

Cana chơi ở các bộ phận hàng đầu của Pháp, Anh, Ý và Thổ Nhĩ Kỳ, đại diện cho Paris Saint-Germain, Sunderland, Galatasaray, Lazio, FC Nantes và Olympique de Marseille cũng như đội tuyển quốc gia Albania mà anh giữ kỷ lục xuất hiện cho Albania nhất Cầu thủ khoác áo mọi thời đại, với 93 mũ kể từ khi anh ra mắt năm 2003 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2016. Anh từng chơi chủ yếu ở vị trí tiền vệ phòng ngự và trung vệ nhưng sau đó chuyển sang trung vệ. Anh tham gia cuộc thi quốc tế lớn đầu tiên dành cho Albania, UEFA Euro 2016 được tổ chức tại Pháp.

Vào năm 16 tuổi, Cana đã được mời đến Arsenal để dùng thử, nhưng không tham dự vì anh bị từ chối visa Anh.[1] Anh bắt đầu sự nghiệp câu lạc bộ cao cấp của mình khi chơi cho Paris Saint-Germain, trước khi ký hợp đồng với đối thủ Olympique de Marseille năm 2004, người mà anh tiếp tục làm đội trưởng. Vào năm 2009, Cana đã ra mắt giải đấu của mình để Sunderland trở thành cầu thủ đầu tiên có nguồn gốc Albania chơi ở Premier League. Sau đó, anh gia nhập Galatasaray, câu lạc bộ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ thành công nhất. Hai năm sau, Cana ký hợp đồng với câu lạc bộ Serie A của Ý, nơi anh đã trải qua bốn năm. Năm 2015, Cana trở lại Pháp, nơi anh bắt đầu sự nghiệp, ký hợp đồng hai năm với Nantes.

Cana đủ điều kiện chơi cho cả Albania, Thụy Sĩ hoặc Pháp, khi anh ta cầm cả ba hộ chiếu.[2] Anh ấy đã chọn Albania và ra mắt quốc tế vào tháng 6 năm 2003, ở tuổi 19. Cana là cầu thủ đội mũ lưỡi trai nhất mọi thời đại của Albania với 92 lần khoác áo đội trưởng vào năm 2011. Anh ấy cũng tham gia cuộc thi quốc tế lớn đầu tiên cho Albania, Giải vô địch châu Âu UEFA 2016 được tổ chức tại Pháp. Sau khi kết thúc UEFA Euro 2016 Cana tuyên bố từ giã bóng đá.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Lorik Cana sinh ra trong Pristina từ cha mẹ là những người quê từ Gjakova. Anh là con trai của Agim Cana, một cựu cầu thủ bóng đá của FC Prishtina. Cana theo dõi mọi trận đấu của Pristina, từ khi anh ấy năm tuổi và tự mô tả mình là một người hâm mộ cuồng nhiệt của đội. Kinh nghiệm của cha Cana trong bóng đá đã truyền cảm hứng cho anh tham gia môn thể thao này. Năm 1992, cả gia đình chuyển đến Thụy Sĩ do chiến tranh Nam Tư.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cana: Arsenali më ka kërkuar si 16-vjeçar” (bằng tiếng Albanian). Pristina, Kosovo: Telegrafi.com. Ngày 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2010. Jam ftuar nga Arsenali për prova kur kam pasur 16 vjet, por nuk mund të vija për shkak të problemeve me vizën. 
  2. ^ Cana: Do të shënojmë dhe fitojmë ndaj Bjellorusisë! Yll Press > Sport: Kombëtaret - "3 pasaporta zotëronte Cana para se të zgjidhte Shqipërinë. Ai kishte në dorë të luante me Zvicrën ose Francën, por zgjodhi të përfaqësonte kombin e tij"
  3. ^ “Biografi e shkurtë e Lorik Canës në Mirror UK (British)” (bằng tiếng Albanian). Albanians Network. Ngày 5 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.