Luís Vaz de Camões

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luís Vaz de Camões

Luís Vaz de Camões (phát âm: [luˈiʃ vaʃ dɨ kaˈmõĩʃ]; đôi khi được dịch sang tiếng Anh từ tiếng Bồ Đào Nha cổ thành Camoens; 1524 - 10 tháng 6 năm 1580) là một nhà thơ người Bồ Đào Nha, ông được coi là nhà thơ vĩ đại nhất của đất nước này. Các tác phẩm thơ của Camões có thể sánh với những tác phẩm của Homer, VirgilDante. Ông sáng tác một lượng lớn các tác phẩm thơ trữ tình (bằng tiếng Bồ Đào Nhatiếng Tây Ban Nha) và kịch, nhưng Camões lại được nhớ đến nhiều nhất với tác phẩm sử thi Os Lusíadas.[1] Tác phẩm triết học của ông Parnaso de Luís Vaz bị mất, bị những người ghen tị lấy trộm cùng với một phần của Os Lusíadas, khi Camões đang ở Mozambique.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu về cuộc đời của Camões có rất ít và thậm chí là mâu thuẫn với nhau. Luís de Camões được cho là sinh năm 1824Lisbon. Ông ngoại của nhà thơ lấy người có họ hàng với Vasco da Gama – nhà chinh phục nổi tiếng thế giới. Mẹ ông - Ana de Sá e Macedo mất sớm nên bố ông - Simão Vaz de Camões kết hôn lần thứ hai rồi đi sang Ấn Độ làm thuyền trưởng và mất ở đó.

Camões học ở trường dòng, sau đó học lên Đại học chuyên về ngôn ngữ và văn học Latinh, Hy Lạp, La Mã, Tây Ban Nha. Do tình yêu với một cô gái đẹp dẫn đến một số vụ lùm xùm buộc ông phải rời Lisbon khi chưa học xong Đại học.

Năm 1549 ông vào phục vụ quân đội và được trở lại Lisbon năm 1551. Trong một ngày lễ tôn giáo Camões đã làm một vị chức sắc của chính quyền bị thương nên phải vào tù 9 tháng, sau đó phải đi sang Ấn Độ phục vụ. Ở Ấn Độ, ông tham gia một số trận đánh, rồi làm thơ, đi về Thánh địa Mecca. Ông bắt đầu viết Os Lusíadas trong thời gian này. Năm 1556 ông được cử đi sang Macao. Từ Macao đi sang Xiêm và bị lạc vào vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay của Việt Nam. Cuối cùng ông trở về Goa, Ấn Độ và sau đó, trở về Lisbon vào năm 1570. Năm 1572 ông in thiên sử thi Os LusíadasLisbon.

Luís de Camões mất ngày 10 tháng 6 năm 1580 vì bệnh dịch hạch. Hiện tại ông được chôn cất gần vua Sebastião và nhà chinh phục vĩ đại Vasco da Gama ở Tu viện Jeronimos trong giáo xứ Belém ở Lisbon.

Ngày mất của Luís de Camões (10 tháng 6) được gọi là ngày Bồ Đào Nha. Tên của ông được đặt cho một miệng núi lửa trên sao Thủy và là tên của một Giải thưởng Văn học lớn ở các nước nói tiếng Bồ (Angola, Bồ Đào Nha, Brasil, Cabo Verde, Đông Timor, Liên minh châu Âu, Guiné-Bissau, Macao, Mozambique, São ToméPríncipe).

Tác phẩm của Luís de Camões được dịch rất phổ biến trên thế giới. Một số bài Soneto và kiệt tác Os Lusíadas cũng đã được trích dịch ra tiếng Việt.

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Mudam-se os tempos, mudam-se as vontades
Mudam-se os tempos, mudam-se as vontades,
Muda-se o ser, muda-se a confiança;
Todo o mundo é composto de mudança,
Tomando sempre novas qualidades.
 
Continuamente vemos novidades,
Diferentes em tudo da esperança;
Do mal ficam as mágoas na lembrança,
E do bem, se algum houve, as saudades.
 
O tempo cobre o chão de verde manto,
Que já coberto foi de neve fria,
E em mim converte em choro o doce canto.
 
E, afora este mudar-se cada dia,
Outra mudança faz de mor espanto:
Que não se muda já como soía.
 
Sete anos de pastor Jacob servia
Sete anos de pastor Jacob servia
Labão, pai de Raquel, serrana bela;
Mas não servia ao pai, servia a ela,
E a ela só por prémio pretendia.
 
Os dias, na esperança de um só dia,
Passava, contentando-se com vê-la;
Porém o pai, usando de cautela,
Em lugar de Raquel lhe dava Lia.
 
Vendo o triste pastor que com enganos
Lhe fora assi negada a sua pastora,
Como se a não tivera merecida;
 
Começa de servir outros sete anos,
Dizendo: – Mais servira, se não fora
Para tão longo amor tão curta a vida!
 
Amor é um fogo que arde sem se ver
Amor é um fogo que arde sem se ver,
é ferida que doi, e não se sente;
é um contentamento descontente,
é dor que desatina sem doer.
 
É um não querer mais que bem querer;
é um andar solitário entre a gente;
é nunca contentar-se de contente;
é um cuidar que ganha em se perder.
 
É querer estar preso por vontade;
é servir a quem vence, o vencedor;
é ter com quem nos mata, lealdade.
 
Mas como causar pode seu favor
nos corações humanos amizade,
se tão contrário a si é o mesmo Amor?
Tất cả đổi thay
Thời gian thay đổi, ước mơ thay đổi
Đời đổi thay, lòng tin cũng đổi thay
Mọi hiện tượng tồn tại dưới mặt trời
Đều thay đổi để tìm chất lượng mới.
 
Ta nhìn ra sự mới mẻ khắp nơi
Nhưng khác nhau trong những niềm hy vọng
Từ niềm vui – giờ chỉ còn hoài niệm
Từ nỗi đau – chỉ còn nỗi ngậm ngùi
 
Mùa xuân sẽ thay cho mùa đông thôi
Thảm cỏ xanh mọc lên từ tuyết trắng
Và chết đi, khi đến hạn đến thời
 
Cuộc sống cứ thế đổi thay từng ngày
Tôi cảm thấy một điều rất kinh khủng:
Khi không đổi thay mọi thứ trên đời.
 
Yacob cưới vợ[2]
Yacob giúp việc cho Laban bảy năm
Không vì ông, mà vì cô con gái
Nàng Rakhel có dung nhan tuyệt mỹ
Vốn từ lâu đã yêu trộm nhớ thầm.
 
Chàng làm việc, mong thời gian trôi nhanh,
Chàng hy vọng âm thầm, mong ngày cưới
Nhưng ông bố của Rakhel lừa dối
Đem gả Lêa thay thế cho nàng.
 
Nhưng chàng chăn thú chung thủy với nàng
Bèn nói với bố Rakhel như vậy:
Cho con xin phụng sự tiếp bảy năm
 
Con sẵn sàng chăn thú suốt đời mình
Vì tình yêu, dù cuộc đời ngắn ngủi
Trong khi tình yêu bất diệt, vĩnh hằng!
 
Tình là ngọn lửa
Tình là ngọn lửa không ai nhìn thấy
Là vết thương mà cảm thấy như không
Là sự bất mãn luôn luôn hài lòng
Là nỗi đau nhưng không hề có hại.
 
Là mong muốn khi không mong gì cả
Là sự cô đơn giữa chốn người đông
Là sự hài lòng khi chẳng hài lòng
Là đam mê để mất khi suy nghĩ.
 
Là sự tự nguyện trở thành nô lệ
Phụng sự người, kẻ vừa chiến thắng mình
Và chung thủy dù trở thành cát bụi
 
Nhưng nếu như tự mâu thuẫn chính mình
Làm sao yêu, khi tình yêu đã chọn
Biết tìm đâu đồng điệu của trái tim?
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Lusiads”. World Digital Library. 1800-1882. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ Bài thơ dựa theo tích Jacob cưới vợ trong Kinh Thánh (Sáng Thế Ký, XIX, 15-30).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]