Luger P08

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luger P08
M1911A1 pistol manufactured by Remington Rand
Súng lục Luger P08
Loại Súng ngắn bán tự động, súng lục
Nguồn gốc  Đế chế Đức
Lược sử hoạt động
Trang bị Đức (1904–1945)
Thụy Sỹ (1900-1970)
Các nước khác (1900-nay)
Quốc gia sử dụng Xem phần Các quốc gia sử dụng
Sử dụng trong Thế chiến thứ nhất
Thế chiến thứ hai
Nội chiến Tây Ban Nha
Chiến tranh Đông Dương
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Trung-Nhật
Và nhiều cuộc chiến khác
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Geogre J. Luger
Năm thiết kế 1900
Nhà sản xuất Deutsche Waffen und Munitionsfabriken, Mauser và nhiều hãng khác của Đức
Giai đoạn sản xuất 1900-1945
Số lượng chế tạo Hơn 2 triệu khẩu
Các biến thể Luger LP08, Luger Artillery
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 871 g
Chiều dài 222 mm

Đạn 7.65x21mm Parabellum
9x19mm Parabellum
.45 ACP
Cơ cấu hoạt động Bệ lùi ngắn
Tốc độ bắn 100-120 viên/phút
Sơ tốc 350-400 m/giây (1148-1312 feet/giây)
Tầm bắn xa nhất 1000 m
Cơ cấu nạp Băng đạn 8 viên
Băng đạn tròn 32 viên
Ngắm bắn Điểm ruồi

Súng ngắn bán tự động Luger P08, tên bản gốc thật sự là Pistole Parabellum 1908 hoặc là Parabellum-Pistole (Pistol Parabellum) là một loại súng lục rất nổi tiếng, thông dụng của quân đội Đức trong suốt thế chiến thứ nhấtthế chiến thứ hai. Vào năm 1898, Georg J. Luger đã chế tạo ra nó và sau này vào năm 1900 nó được thiết kế bởi nhà máy quân sự Đức Deutsche Waffen- und Munitionsfabriken (gọi tắt là DWM), có thể nói khẩu Luger P08 là một khẩu súng được thiết kế theo khẩu súng ngắn Borchardt C-93 của Hugo Borchardt, một loại súng ngắn lừng danh tại miền viễn tây nước Mỹ vào năm 1893 và nhiều năm sau đó. Khẩu Luger đầu tiên được quân đội Thụy Sỹ sử dụng vào tháng 5 năm 1900, tuy là đất nước phát minh ra nhưng đến năm 1904 quân đội Đức mới dùng nó. Luger P08 sử dụng loại đạn nổi tiếng thế giới, 9x19mm Parabellum giống như người "em trai" của nó, súng lục Walther P38. Súng này không chỉ dùng bởi quân đội phát xít Đức mà còn được quân kháng chiến sử dụng như là vũ khí chính của họ.

Trong thời gian thế chiến thứ nhất bùng nổ thì Luger được trang bị bởi hầu hết các cấp bậc trong quân đội Đức, từ binh lính đến sĩ quan, nhưng khi thế chiến thứ hai diễn ra, khẩu Walther P38 được thiết kế ra nhằm thay thế cho khẩu súng lục lỗi thời này thì Luger chỉ còn được sử dụng bởi những vị tướng hay tá chứ binh lính không thể dùng nó nữa, chắc có lẽ lúc đó số lượng Luger có hạn. Luger P08 có nhược điểm là nếu như để một hạt cát, hạt đất nhỏ rơi vào nòng hay vào bất cứ bộ phận nào của súng thì độ chính xác của súng sẽ bị giảm sút, chính vì thế nên bao súng của các sĩ quan phải có khả năng che kín hết cả khẩu súng để tránh bẩn. Đây cũng là khẩu súng ngắn tiêu chuẩn của các sĩ quan và binh lính của quân đội Thụy Điển trong thế chiến thứ hai.

Đối với các sĩ quan thì có khẩu Luger P08 trong tay giống như là đang giữ một huy chương quý giá, nó quý giá đến nổi người lính đồng minh nào tham chiến trong thế chiến thứ hai cũng đều muốn đem về một khẩu như là chiến lợi phẩm. Luger cũng được quân đội Mỹ từ châu Âu gửi đến cho những quân đội Mỹ đang chiến đấu ở mặt trận Châu Á-Thái Bình Dương như là món quà. Trong thời gian chính phủ Mỹ cần chọn súng ngắn tốt cho quân sự và cảnh sát quốc gia thì họ chỉ chọn Colt M1911 chứ không chọn Luger bởi vì Luger là một loại súng ngắn có tính chính xác rất cao nhưng nó không bắn và nạp đạn nhanh bằng M1911, vì thế nên chính phủ Mỹ quyết định sẽ cho quân đội lẫn cảnh sát dùng M1911 thay vì khẩu Luger vừa bắn chậm vừa "nhõng nhẽo" sợ bẩn kia, điều đặc biệt khác là M1911 có thể thiết kế chế độ bắn liên thanh còn Luger thì không. Điều ghê gớm và nguy hiểm của Luger là nó thường bị cướp cò, bởi vậy ai muốn dùng nó thì phải khóa chốt an toàn cẩn thận trước khi bỏ vào bao súng, nếu không may bị một viên đạn của Luger ghim vào đùi, chân thì sẽ chết ngay sau 1 phút, không thể cứu vãn được vì hỏa lực của nó rất mạnh.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]