Luna 9

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luna 9
Luna 9 Musee du Bourget P1010505.JPG
Một bản sao của Luna 9 trưng bày tại Bảo tàng Hàng không Vũ trụ Paris, Le Bourget
Dạng nhiệm vụHạ cánh trên Mặt Trăng
COSPAR ID1966-006A
Thời gian nhiệm vụ6 ngày
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Dạng thiết bị vũ trụYe-6
Nhà sản xuấtLavochkin
Trọng lượng phóng1.580 kilôgam (3.480 lb)
Landing mass99 kilôgam (218 lb)
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng31 January 1966, 11:45:00 (1966-01-31UTC11:45Z) UTC
Tên lửaMolniya-M 8K78M
Địa điểm phóngSân bay vũ trụ Baykonur Baikonur Cosmodrome Site 31
Kết thúc nhiệm vụ
Lần liên lạc cuối6 February 1966, 22:55 (6 February 1966, 22:55) UTC
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuGeocentric orbit
Chế độHighly elliptical orbit
Củng điểm quỹ đạo220 kilômét (140 mi)[1]
Củng điểm quỹ đạo500.000 kilômét (310.000 mi)[1]
Độ nghiêng quỹ đạo51.8 độ[1]
Chu kỳ quỹ đạo14.96 ngày[1]
Kỷ nguyên31 January 1966[1]
Mặt Trăng xe tự hành
Thời điểm hạ cánh3 tháng 2 năm 1966, 18:45:30 UTC
Địa điểm hạ cánh7°05′B 64°22′T / 7,08°B 64,37°T / 7.08; -64.37Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Celestial object quadrangle”.[2]
Oblique view of Planitia Descensus showing crash site of Luna 8 and the landing point of Luna 9 (Lunar Orbiter 3 image)

Luna 9 (Луна-9), tên gọi nội bộ Ye-6 No.13, là một nhiệm vụ không người lái của chương trình Luna của Liên Xô. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1966 phi thuyền Luna 9 trở thành phi thuyền đầu tiên đạt được hạ cánh mềm trên Mặt Trăng, hoặc bất kỳ hành tinh nào khác ngoài Trái Đất, và truyền dữ liệu ảnh đến Trái đất từ bề mặt của một hành tinh khác.

Tàu vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu đổ bộ có khối lượng 99 kg (218 lb). Nó sử dụng một túi hạ cánh để tồn tại dưới tốc độ tác động 22 km/giờ (6,1 m / s; 14 mph).[3] Tàu là một container kín với thiết bị vô tuyến, thiết bị định thời gian chương trình, hệ thống kiểm soát nhiệt, thiết bị khoa học, nguồn điện và hệ thống truyền hình.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh cận cảnh bề mặt chụp sau khi hạ cánh.

Những hình ảnh từ Luna 9 không được chính quyền Liên Xô phát hành ngay lập tức, nhưng các nhà khoa học tại Đài thiên văn Jodrell ở Anh, đang theo dõi con tàu, nhận thấy rằng định dạng tín hiệu được sử dụng giống hệt với hệ thống Radiofax được quốc tế đồng ý sử dụng cho báo chí. Daily Express vội vã đưa một máy thu phù hợp đến Đài quan sát và những hình ảnh từ Luna 9 đã được giải mã và xuất bản trên toàn thế giới. BBC đã suy đoán rằng các nhà thiết kế của phi thuyền cố tình trang bị tàu vũ trụ với thiết bị phù hợp với tiêu chuẩn, để cho Đài thiên văn Jodrell có thể đọc được dữ liệu.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c McDowell, Jonathan. “Satellite Catalog”. Jonathan's Space Page. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “NASA - NSSDC - Spacecraft - Details”. NASA. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ Astronautix
  4. ^ BBC ON THIS DAY | 3 | 1966: Soviets land probe on Moon

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]