Luna 24

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luna 24
Luna24-mission-nasa.jpg
Cơ quan vận hànhLiên Xô
Nhà thầu chínhLavochkin
Chức năngLunar Science: lunar sample return
Vệ tinh củaMặt Trăng
Thời điểm đi vào quỹ đạo14 tháng 8 năm 1976
Quỹ đạo~48
Ngày phóng9 tháng 8 năm 1976 15:04:12 Giờ phối hợp quốc tế
Tên lửa đầyProton-K + Blok D
Địa điểm phóngSân bay vũ trụ Baykonur
Thời gian thực hiện chuyến bay13 ngày
Hạ cánh22 tháng 8 năm 1976 17:55 UTC
Vị trí đổ bộ200 km (120 mi) SE of Surgut
in western Xibia
COSPAR ID1976-081A
Khối lượng5.800 kg (12.800 lb)
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn6.492,8 km (4.034,4 mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Độ lệch tâm0
Độ nghiêng120°
Viễn điểm115 km (71 mi)
Cận điểm115 km (71 mi)
Chu kỳ quỹ đạo119 phút
Đổ bộ Mặt Trăng
Ngày18 tháng 8 năm 1976 06:36 UTC
Tọa độ12°45'N 62°12'E
Departure19 tháng 8 năm 1976 05:25 UTC
Các thiết bị
Các thiết bị chínhStereo photographic imaging system
Improved drill/Remote arm for sample collection
Radiation detector
Radio-altimeter
Tham khảo: NASA NSSDC Master Catalog

Luna 24 (Ye-8-5M series) là một con tàu vũ trụ không người lái thám hiểm Mặt Trăng của Liên Xô. Năm 1976, Luna-24 hạ cánh an toàn xuống Mặt Trăng và sau đó đã quay trở về Trái Đất, mang theo 170 gr đất Mặt Trăng[1].

Luna 24 là tàu thám hiểm cuối cùng của loạt tàu thám hiểm Mặt Trăng không người lái Luna. Luna là chương trình nghiên cứu Mặt Trăng tự động của Liên Xô được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1976. Chương trình thám hiểm này gồm 24 chuyến bay, ký hiệu từ Luna-1 đến Luna-24. Kể từ khi Luna 24 hạ cánh xuống Mặt Trăng năm 1976, không có con tàu vũ trụ nào khác đã được phóng lên từ Trái Đất hạ cánh xuống Mặt Trăng cho đến năm 2013. Tàu vũ trụ không người lái tiếp theo dự định hạ cánh xuống Mặt Trăng là Hằng Nga 3 được Trung Quốc phóng ngày 2 tháng 12 năm 2013.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Solar System Exploration: Missions: By Nation: USSR: Luna 24 solarsystem.nasa.gov. Truy cập: 2011-11-09.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]