Lỗ Mặt Trăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hố Webb, được nhìn từ Lunar Orbiter 1. Một vài các hố nhỏ khác có thể được thấy bên trong và xung quanh hố Webb.
Hố Moltke được chụp từ Apollo 10.

Lỗ Mặt Trăng hay Hố Mặt Trăng là các hố va chạm trên Mặt Trăng. Trên bề mặt của Mặt Trăng có rất nhiều hố, và hầu như các hố được hình thành bởi va chạm.[1][2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các định kiến khoa học cho rằng các lỗ mặt trăng được hình thành vào hàng thế kỉ trước. Các giả thuyết gây tranh cãi cho rằng có một hoặc nhiều vụ phun trào núi lửa đã để lại các hố trên Mặt Trăng, (b) vụ va chạm thiên thạch, (c) giả thuyết được Welteislehre phát triển tại Đức giữa hai Thế chiến cho rằng một mảnh thạch lớn đã tạo ra các hố.

Grove Karl Gilbert năm 1893 cho rằng các lỗ mặt trăng được hình thành do va chạm của thiên thạch. Ralph Baldwin năm 1949 viết rằng các lỗ mặt trăng chủ yếu hình thành do va chạm. Khoảng năm 1960, Gene Shoemaker phục hồi lại ý tưởng. Theo David H. Levy, Gene "thấy rằng các lỗ mặt trăng không phải được hình thành dần dần trong niên đại địa chất, mà còn nhanh hơn thế, là trong mỗi giây."[3]

Các lỗ mặt trăng được chụp từ kính thiên văn của nhà thiên văn học nghiệp dư, được chiếu sáng một phần bởi mặt trời trên mặt trăng lưỡi liềm.
LCác lỗ mặt trăng được chụp từ kính thiên văn của nhà thiên văn học nghiệp dư, được chiếu sáng một phần bởi mặt trời trên mặt trăng lưỡi liềm.

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Vì sự thiếu nước, khí quyển, và các mảng kiến tạo, có sự xói mòn đôi chút, và các hố được cho là tồn tại hai tỉ năm trước. Tuổi của hố lớn được xác định bởi tuổi của các hố nhỏ trong nó, các hố già hơn chứa nhiều các hố nhỏ hơn.

Hố mặt trăng Eratosthenes (trái giữa) được chụp tại Trái Đất bởi nhà thiên văn học nghiệp dư Joel Frohlich sử dụng kính thiên văn Schmidt-Cassegrain 8 inch.

Lỗ nhỏ nhất đã được hiển vi hóa, được tìm thấy ở đá Măt Trăng đem về Trái Đất. Lỗ lớn nhất có đường kính khoảng 290 km (181 mi) tại Cực Nam của Mặt Trăng. Tuy nhiên, các biển Mặt Trăng được hình thành do các vụ va chạm lớn, với kết quả là được lấp đầy bởi dung nham trồi lên.

Phân loại lỗ mặt trăng[sửa | sửa mã nguồn]

  • ALC — nhỏ, lỗ hình cốc với đường kính 10 km hoặc nhỏ hơn, và không có tầng giữa. Ví dụ điển hình cho loại này là Albategnius C.
  • BIO — giống với ALC, nhưng tầng nhỏ và bằng phẳng. Đường kính khoảng 15 km. Ví dụ điển hình cho loại này là Biot.
  • SOS — tầng bên trong rộng và phẳng, không có đỉnh trung tâm. Tường bên trong cao. Đường kính bình thường khoảng 15–25 km. Ví dụ điển hình cho loại này là Sosigenes.
  • TRI — loại này đủ lớn để lớp tường bên trong trũng xuống tới tầng thấp nhất. Có đường kính khoảng 15–50 km. Ví dụ điển hình cho loại này là Triesnecker.
  • TYC — có đường kính lớn hơn 50 km, tường bên trong cao và tầng trong tương đối bằng phẳng. Ví dụ điển hình cho loại này là Tycho.

Vị trí của các lỗ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm chấm đỏ ở dưới thể hiện vị trí của mỗi lỗ trên Mặt Trăng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pike RJ (1977). “Size-dependence in the shape of fresh impact craters on the moon.”. Impact and explosion cratering: Planetary and terrestrial implications; Proceedings of the Symposium on Planetary Cratering Mechanics, Flagstaff, Ariz., September 13-17, 1976. New York: Pergamon Press. tr. 489–509. 
  2. ^ Quaide, W.L. & Oberbeck, V.R. (1968). “Thickness determinations of the lunar surface layer from lunar impact craters”. Journal of Geophysical Research (American Geophysical Union) 73 (16): 5247–5270. Bibcode:1968JGR....73.5247Q. doi:10.1029/JB073i016p05247. 
  3. ^ Levy, David (2002). Shoemaker by Levy: The man who made an impact. Princeton: Princeton University Press. tr. 59. ISBN 9780691113258.