Luna 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mechta
RIAN archive 510848 Interplanetary station Luna 1 - blacked.jpg
Một bản sao đặt tại viện bảo tàng
Dạng nhiệm vụ Hạ cánh xuống Mặt Trăng
Nhà đầu tư Liên Xô
Thiết kế Harvard 1959 Mu 1
COSPAR ID 1959-012A
SATCAT № 112
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Nhà sản xuất OKB-1
Trọng lượng phóng 361 kilôgam (796 lb)
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng January 2, 1959 16:41:21 (1959-01-02UTC16:41:21Z) UTC
Tên lửa Luna (rocket) 8K72
Địa điểm phóng Sân bay vũ trụ Baykonur Gagarin's Start
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếu Quỹ đạo nhật tâm
Bán trục lớn 1.146 AU
Độ lệch tâm quỹ đạo 0.14767
Củng điểm quỹ đạo 0.9766 AU
Củng điểm quỹ đạo 1.315 AU
Độ nghiêng quỹ đạo 0.01 degrees[1]
Chu kỳ quỹ đạo 450 ngày
Kỷ nguyên 1 tháng 1 năm 1959, 19:00:00 UTC[1]
Mặt Trăng flyby (failed impact)
Tiếp cận gần nhất 4 tháng 1 năm 1959
Khoảng cách 5.995 kilômét (3.725 mi)

Luna 1, còn được gọi là Mechta (tiếng Nga: Мечта, dịch nghĩa: Giấc mơ),[2]] E-1 No.4First Lunar Rover,[3] là phi thuyền đầu tiên tiếp cận vùng lân cận của Mặt Trăng, và tàu vũ trụ đầu tiên thực hiện quỹ đạo quanh Mặt Trời. Được thiết kế là tàu vũ trụ hạ cánh xuống Mặt Trăng, Luna 1 đã được phóng lên như một phần của chương trình Luna của Liên Xô năm 1959, tuy nhiên do quá trình đốt tên lửa đẩy trên không đã bị thực hiện sai thời điểm trong thời gian phóng, nó đã bỏ lỡ và chỉ đi sát qua Mặt Trăng, và trong quá trình này trở thành phi thuyền đầu tiên rời khỏi quỹ đạo quanh Trái Đất.

Trong khi đi qua bên ngoài vành đai bức xạ Van Allen, máy chụp hình của tàu vũ trụ đã quan sát thấy rằng một số lượng nhỏ các hạt năng lượng cao tồn tại trong vành đai bên ngoài. Các phép đo thu được trong nhiệm vụ này cung cấp dữ liệu mới về vành đai bức xạ của Trái Đất và không gian ngoài thiên thể. Số liệu gửi về cho thấy Mặt Trăng không có từ trường. Những quan sát và đo đạc trực tiếp đầu tiên của gió mặt trời,[3][4][5] một dòng chảy mạnh mẽ của plasma ion hóa phát ra từ Mặt Trời và truyền qua không gian liên hành tinh, đã được thực hiện. Nồng độ ion hóa được xác định là khoảng 700 hạt trên cm3 ở độ cao 20–25 nghìn km và 300 đến 400 hạt trên cm3 ở độ cao 100–150.000 km.[6] Tàu vũ trụ cũng lập kỷ lục liên lạc vô tuyến đầu tiên ở khoảng cách nửa triệu cây số.

Một sự cố trong hệ thống điều khiển trên mặt đất gây ra một lỗi trong thời gian cháy của tên lửa, và phi thuyền đã bỏ lỡ mục tiêu và bay sát qua Mặt trăng ở khoảng cách 5,900 km tại điểm gần nhất. Luna 1 sau đó trở thành vật thể nhân tạo đầu tiên thực hiện quỹ đạo nhật tâm và sau đó được gọi là "hành tinh mới" và được đổi tên thành Mechta (Giấc mơ).[7] Luna 1 cũng được gọi là "Tên lửa vũ trụ đầu tiên", ám chỉ đến vận tốc thoát đi của nó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “NASA - NSSDCA - Spacecraft - Trajectory Details”. nssdc.gsfc.nasa.gov. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018. 
  2. ^ David Darling, The complete book of spaceflight: from Apollo 1 to zero gravity. John Wiley and Sons, 2003, p. 244. ISBN 0-471-05649-9
  3. ^ a ă Brian Harvey, Russian planetary exploration: history, development, legacy, prospects. Springer, 2007, p.26. ISBN 0-387-46343-7
  4. ^ David Darling, Internet Encyclopedia of Science.
  5. ^ Luna 1. NASA National Space Science Data Center. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2007. 
  6. ^ “Soviet Space Rocket”. Yearbook of the Great Soviet Encyclopedia (bằng tiếng Nga). Moscow: Sovetskaya Enciklopediya. 1959. ISSN 0523-9613. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ Cormack, Lesley B. (15 tháng 3 năm 2012). A History of Science in Society: From Philosophy to Utility (ấn bản 2). University of Toronto Press. tr. 342. ISBN 978-1-4426-0446-9. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]