Maasai Mara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara.
IUCN II (Vườn quốc gia)
Điển hình của những "đốm" trên vùng đồng cỏ Maasai Mara
Điển hình của những "đốm" trên vùng đồng cỏ Maasai Mara
Vị trí Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara.
Vị trí Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara.
Vị trí của Maasai Mara
Vị trí Rift Valley, Kenya
Tọa độ 1°29′24″N 35°8′38″Đ / 1.49000°N 35.14389°Đ / -1.49000; 35.14389Tọa độ: 1°29′24″N 35°8′38″Đ / 1.49000°N 35.14389°Đ / -1.49000; 35.14389
Diện tích 1.510 kilômét vuông (583 sq mi)[1]
Thành lập 1961
Cơ quan quản lý Liên kết hai bên và Hội đồng Narok

Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara(còn được gọi là Masai Mara hay The Mara theo những người địa phương) là một khu dự trữ thú săn lớn nằm ở Narok, Kenya. Nó tiếp giáp với vùng đồng cỏ của Vườn quốc gia SerengetiMara, Tanzania. Tên của khu bảo tồn để vinh danh những người Maasai (người dân tổ tiên ở khu vực này) và mô tả về khu bảo tồn khi nhìn từ xa, từ "Mara" trong ngôn ngữ Maasai có nghĩa là "đốm", hình ảnh của những tán cây, cây bụi và bóng mây trên khu vực đồng cỏ nhiệt đới.

Khu bảo tồn này nổi tiếng trên toàn thế giới nhờ số lượng đáng kể các loài Sư tử Masai (hay còn gọi là Sư tử Đông Phi), Báo hoa châu PhiBáo săn Tanzania, đặc biệt là cảnh tượng di cư của các loài Ngựa vằn, Linh dương Thomson, Linh dương đầu bò đến và đi từ vùng đồng cỏ Serengeti trong khoảng thời gian từ tháng 7 - 10 hàng năm, được biết đến với tên gọi là Cuộc đại di cư.

Khu bảo tồn Maasai Mara chỉ là một phần nhỏ của Hệ sinh thái Đại Mara nằm tại các làng Koiyaki, Lemek, Ol Chorro Oirowua, Olkinyei, Siana, Maji Moto, Naikara, Ol Derkesi, Kerinkani, Oloirien, và Kimintet.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Maasai Mara, "đốm" phía xa là các cây bụi, động vật, bóng mây, và cây ô keo.
Hươu cao cổ trên vùng đồng cỏ mở.

Ban đầu, nó được thành lập vào năm 1961 như là một khu bảo tồn động vật hoang dã Mara, bao phủ 520 kilômét vuông (200 sq mi), bao gồm cả các Mara Triangle. Khu vực này sau đó được mở rộng về phía đông vào năm 1961 để trở thành một khu bảo tồn thú săn có diện tích 1.821 km2 (703 sq mi). Hội đồng huyện Narok (NCC) đã tiếp quản khu bảo tồn vào thời điểm này. Một phần của khu dự trữ trở thành khu bảo tồn quốc gia vào năm 1974, và các khu vực còn lại có diện tích 159 km2 (61 sq mi) đã được trả lại cho các cộng đồng dân cư địa phương. Năm 1976, 162 km2 (63 sq mi) diện tích tiếp tục đã được tách ra khỏi khu bảo tồn, và sau đó khu bảo tồn chỉ còn diện tích 1.510 km2 (580 sq mi) vào năm 1984.[2]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Động vật hoang dã[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “World Database on Protected Areas – Masai Mara”. wdpa.org. World Database on Protected Areas. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  2. ^ Walpole 2003, tr. X
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mara_fees” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]