Linh dương đầu bò xanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Linh dương đầu bò)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh dương đầu bò xanh
Thời điểm hóa thạch: Thế Pleistocen đến hiện tại, 1–0Ma
Blue Wildebeest, Ngorongoro.jpg
Gnous.jpg
Con cái và con non
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Alcelaphinae
Chi (genus) Connochaetes
Loài (species) C. taurinus
Danh pháp hai phần
Connochaetes taurinus
(Burchell, 1823)
Phân bố của phân loài:  C. t. taurinus  C. t. cooksoni  C. t. johnstoni  C. t. albojubatus  C. t. mearnsi
Phân bố của phân loài:
  C. t. taurinus
  C. t. cooksoni
  C. t. johnstoni
  C. t. albojubatus
  C. t. mearnsi
Phân loài

C. t. albojubatus (Thomas, 1912)
C. t. cooksoni (Blaine, 1914)
C. t. johnstoni (Sclater, 1896)
C. t. mearnsi (Heller, 1913)

C. t. taurinus (Burchell, 1823)

Linh dương đầu bò xanh (tiếng Anh: Blue wildebeest; danh pháp hai phần: Connochaetes taurinus), cũng được gọi là common wildebeest (linh dương đầu bò thông thường), white-bearded wildebeest (linh dương đầu bò râu trắng) hoặc brindled gnu (linh dương đầu bò nâu đốm), là một loài linh dương lớn và là một trong hai loài wildebeest (linh dương đầu bò). Loài này được xếp vào chi Connochaetes, họ Bovidae và có mối quan hệ chặt chẽ với loài linh dương đầu bò đen. Linh dương đầu bò xanh có 5 phân loài. Linh dương có bờ vai rộng vạm vỡ, diện mạo nặng mặt tiền, cùng chiếc mõm đặc biệt chắc khỏe. Linh dương non được sinh ra có màu vàng nâu, bắt đầu chuyển màu trưởng thành khi đạt 2 tháng tuổi. Phạm vi màu da lông con trưởng thành khoảng từ màu xám đá sẫm hoặc xám xanh đến xám nhạt hoặc thậm chí nâu xám. Cả hai giới sở hữu cặp sừng rộng và cong.

Linh dương đầu bò xanh là động vật ăn cỏ, kiếm ăn chủ yếu tại đồng cỏ ngắn. Đàn linh dương di chuyển theo kết cấu lỏng lẻo, chúng chạy nhanh và cực kỳ cảnh giác. Mùa giao phối bắt đầu vào cuối mùa mưa và một con non duy nhất được sinh ra sau thai kỳ khoảng 8 tháng rưỡi. Con non vẫn còn ở với mẹ trong 8 tháng, sau thời gian đó nó tham gia vào đàn linh dương non. Linh dương đầu bò xanh phân bố tại vùng đồng bằng cỏ ngắn giáp xavan mọc cây keo che phủ bụi rậm ở miền nam và miền đông châu Phi, phát triển mạnh tại vùng không quá ẩm ướt hoặc không quá khô cằn. Mỗi năm, vài quần thể linh dương đầu bò xanh tại Đông Phi tham gia hành trình di cư đường dài, có vẻ thời gian trùng với lượng mưa và cỏ tăng trưởng theo khuôn mẫu địa phương.

Linh dương đầu bò xanh có nguồn gốc tại Angola, Botswana, Kenya, Mozambique, Nam Phi, Swaziland, Tanzania, ZambiaZimbabwe. Ngày nay loài này đã tuyệt chủng ở Malawi, nhưng được tái nhập thành công tại Namibia. Phạm vi phân bố của linh dương đầu bò xanh có giới hạn phía nam tại sông Orange, trong khi giới hạn phía tây giáp hồ Victorianúi Kenya. Linh dương đầu bò xanh khá phổ biến, đang được tái nhập tại nhiều trang trại, khu dự trữ và khu bảo tồn. Vì lý do này, IUCN xếp linh dương đầu bò xanh là loài ít quan tâm. Số lượng ước tính được khoảng 1 triệu rưỡi và xu hướng số lượng ổn định.

Danh mục phân loại và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò xanh được mô tả lần đầu bởi nhà tự nhiên học người Anh William John Burchell năm 1823[2] và đặt danh pháp hai phầnConnochaetes taurinus.[3] Loài này được xếp vào chi Connochaetes cùng với linh dương đầu bò đen (C. gnou), thuộc họ Bovidae, động vật nhai lại có móng guốc chẻ.[3] Danh pháp Connochaetes bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, chữ κόννος, kónnos, "râu", và χαίτη, khaítē, "lông rủ dài", "bờm".[4] Danh pháp taurinus khởi nguồn từ chữ Hy Lạp tauros, mang nghĩa con bò đực hoặc bò thiến.[5] Tên thông thường "blue wildebeest" (linh dương đầu bò xanh) dựa trên bộ lông khoác ánh xanh bạc đáng chú ý,[6] trong khi những tên khác "gnu" bắt nguồn từ tên dành cho loài vật này được người Khokloi sử dụng, một bộ lạc chăn thả bản địa phía tây nam châu Phi.[7]

Mặc dù linh dương đầu bò xanh và đen được xếp trong cùng chi, nhưng trước đây được xếp theo chi riêng biệt, Gorgon. Một nghiên cứu về chromosome nguyên phânDNA ty thể được thực hiện nhằm tìm hiểu thêm về mối quan hệ tiến hóa giữa hai loài, phát hiện rằng cả hai có mối quan hệ phát sinh loài chặt chẽ và đã tách ra khoảng 1 triệu năm trước đây.[8]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

C. taurinus có 5 phân loài:[1][9][10]

  • C. t. albojubatus (Thomas, 1912; linh dương đầu bò râu trắng phía đông), được tìm thấy tại thung lũng tách dãn Gregory (phía nam xích đạo). Phạm vi kéo dài từ phía bắc Tanzania đến miền trung Kenya.
  • C. t. cooksoni (Blaine, 1914; linh dương đầu bò Cookson), giới hạn đến thung lũng Luangwa ở Zambia. Đôi khi, loài này có thể đi lang thang vào vùng cao nguyên miền trung Malawi.
  • C. t. johnstoni (Sclater, 1896; linh dương đầu bò Nyassaland), xuất hiện từ Mozambique (phía bắc sông Zambezi) đến miền trung phía đông Tanzania. Phân loài này đã tuyệt chủng tại Malawi.
  • C. t. mearnsi (Heller, 1913; linh dương đầu bò râu trắng phía tây), phân bố tại miền bắc Tanzania và miền nam Kenya. Phạm vi kéo dài từ phía tây thung lũng Gregory đến vịnh Speke tại hồ Victoria.
  • C. t. taurinus (Burchell, 1823; linh dương đầu bò xanh, linh dương đầu bò thông thường hoặc linh dương đầu bò nâu đốm) được tìm thấy ở miền nam châu Phi. Phạm vi kéo dài từ Namibia và Nam Phi đến Mozambique (phía bắc sông Orange) và từ phía tây nam Zambia (phía nam của sông Zambezi) tới miền nam Angola.

Lai ghép[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò xanh được cho lai giống với linh dương đầu bò đen.[11] Sự khác biệt trong hành vi xã hội lẫn môi trường sống trong lịch sử đã ngăn cản lai giống giữa hai loài. Tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra khi cả hai loài được giới hạn cùng khu vực, con lai thường tốt giống. Một nghiên cứu về con vật lai tại khu bảo tồn thiên nhiên Spioenkop Dam ở Nam Phi phát hiện nhiều bất thường bẩm sinh liên quan đến răng, sừng và xương khớp trong của hộp sọ.[12] Một nghiên cứu khác báo cáo sự gia tăng kích thước con lai so với một trong hai bố mẹ của nó. Ở một số con vật lai bóng thính giác bị biến dạng cao và những bộ phận khác như xương quay, xương trụ được hợp nhất.[13]

Di truyền và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng nhị bội thể của chromosome trong linh dương đầu bò xanh là 58.[14] Nhiễm sắc thể được nghiên cứu trong một con đực và một con cái. Trong con cái, tất cả (ngoại trừ một cặp nhiễm sắc thể hạ khuynh tâm khá lớn) tìm được đều là thể nhiễm sắc dạng que. Pha giữa nghiên cứu được trong nhiễm sắc thể linh dương đực, nhiễm sắc thể hạ khuynh tâm khá lớn tìm được nhiều, tương tự như linh dương cái cả về kích thước lẫn hình thái, số còn lại là nhiễm sắc dạng que. Nhiễm sắc thể X là một nhiễm sắc dạng que lớn trong khi nhiễm sắc thể Y khá chi li.[15][16]

Loài linh dương đầu bò này dường như tiến hóa khoảng 2,5 triệu năm trước.[17] Linh dương đầu bò đen được cho là tách ra từ linh dương đầu bò xanh để trở thành một loài riêng biệt khoảng 1 triệu năm trước, vào khoảng giữa đến cuối thế Pleistocene.[18] Bằng chứng hóa thạch cho biết linh dương đầu bò xanh từng khá phổ biến tại cái nôi của nhân loại trong quá khứ. Ngoài miền đông châu Phi, hóa thạch còn được phát hiện ở Elandsfontein, CorneliaFlorisbad.[17]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước và tuổi thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn cận cảnh linh dương đầu bò xanh

Linh dương đầu bò xanh thể hiện sự lưỡng hình giới tính. Con đực lớn hơn và sẫm màu hơn so với con cái. Linh dương đầu bò xanh có chiều dài từ đầu đến hết thân thường giữa 170–240 cm (67–94 in). Chiều cao trung bình khoảng 115–145 cm (45–57 in).[19] Trong khi con đực nặng tới 290 kg (640 lb), con cái ít khi vượt quá 260 kg (570 lb).[20] Điểm đặc trưng ở chiếc đuôi dài, đen, khoảng 60–100 cm (24–39 in).[19] Tất cả đặc điểm và dấu hiệu của loài này là đối xứng song phương cho cả hai giới.[21] Tuổi thọ trung bình khoảng 20 năm trong tự nhiên, và 21 năm trong môi trường nuôi nhốt.[22] Cá thể già nhất từng được nuôi nhốt sống khoảng 24,3 năm.[21]

Màu sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò có bờ vai rộng vạm vỡ, diện mạo nặng mặt tiền, cùng chiếc mõm đặc biệt chắc khỏe. Linh dương nhỏ khi sinh có màu nâu vàng, bắt đầu chuyển màu trưởng thành khi 2 tháng tuổi. Phạm vi màu sắc con trưởng thành khoảng từ màu xám đá sẫm hoặc xám xanh đến xám nhạt hoặc thậm chí nâu xám. Lưng và sườn hơi nhẹ hơn so với bề mặt bụng và phần dưới bụng. Sọc dọc màu nâu sẫm đánh dấu khu vực giữa cổ và mặt sau lồng ngực,[23] do đó chúng còn có tên "brindled gnu" (linh dương nâu đốm đầu bò).[24] Bờm của cả hai giới đều dài, cứng, dày và đen tuyền, màu sắc giống như đuôi và gương mặt.[21] Trong khi bờm của linh dương đầu bò râu trắng phía tây và phía đông rủ thẳng xuống, còn lại đa số linh dương đầu bò Nyassaland và linh dương đầu bò thông thường nhô lên. Tuyến mùi hơi tiết ra một chất dầu trong suốt, xuất hiện tại bàn chân trước, ở con đực lớn hơn so với con cái.[6]

Dựa theo giới hạn chiều dài hộp sọ, phân loài nhỏ nhất của loài này là linh dương đầu bò râu trắng phía tây,[16] đây cũng là phân loài sẫm màu nhất. Linh dương đầu bò râu trắng phía đông có màu sáng nhất.[6] Cả hai phân loài sở hữu một bộ râu trắng kem, nhưng ngược lại ở cả linh dương đầu bò Nyassaland và linh dương đầu bò thông thường sở hữu bộ râu đen. Rõ mõm dài nhất được tìm thấy ở linh dương đầu bò Nyassaland, và ngắn nhất ở con cái linh dương đầu bò râu trắng phía Tây.[16]

Cận cảnh cặp sừng linh dương đầu bò

Sừng[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai giới đều có cặp sừng lớn, hình dạng như dấu ngoặc đơn. Sừng mở rộng sang mỗi bên, về phía ngoài, sau đó đường cong hướng lên trên rồi uốn vào trong. Ở linh dương đực, sừng có thể dài 83 cm (33 in), trong khi sừng linh dương cái dài 30–40 cm (12–16 in).[19] Mặc dù là một loài linh dương, linh dương đầu bò xanh có nhiều đặc điểm loài trâu bò. Ví dụ, cặp sừng giống như trâu rừng châu Phi cái.[19] Hơn nữa, cấu trúc cơ thể nặng và phần thân trước lớn, không cân xứng khiến chúng có hình dạng như con bò.[25][26]

Bệnh tật và ký sinh trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Dịch tả trâu bò có lẽ là căn bệnh nghiêm trọng nhất mà linh dương đầu bò nhiễm phải. Chúng cũng dễ bị lở mồm long móng, bệnh than, ghẻ lở hay hoại tử móng guốc.[26] Virus herpes lần đầu tiên được phân lập từ linh dương đầu bò xanh vào năm 1960 do nhà khoa học thú y Walter Plowright.[27] Mặc dù nguyên nhân tử vong thay đổi từ năm này sang năm khác, nhưng trong một đợt hạn hán ở Botswana, con non và con cái có tuổi hầu hết đều có khả năng tử vong. Vào một dịp khác, người ta ước tính rằng 47% trường hợp tử vong do bệnh, 37% do bị ăn thịt, còn lại là kết quả tai nạn.[26]

Linh dương đầu bò có thể bị nhiễm vài loại ký sinh trùng khác nhau. Trong một nghiên cứu, linh dương đầu bò xanh được phát hiện nhiễm đến 13 loài giun tròn, 1 loài sán lá, ấu trùng 5 loài ruồi oestrid, 3 loài chấy rận, 7 loài ve bọ, 1 loài ve bétấu trùng 1 loài giun hình lưỡi. Trong số này, nhất là phổ biến hơn tại một số thời điểm trong năm so với số khác.[28] Nhìn chung, ấu trùng GedoelsticaOestrus ký sinh tại đoạn mũi, khoang hô hấp của linh dương đầu bò xanh, đôi khi còn di chuyển lên não.[26] So với một số loài trâu bò khác, linh dương đầu bò xanh kháng nhiễm được sự phá hoại của vài loài ve bọ.[29]

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Bầy đàn linh dương cùng ngựa vằn đang gặm cỏ

Linh dương đầu bò xanh chủ yếu hoạt động vào buổi sáng và chiều tối. Thời giờ nóng nhất trong ngày được dành nghỉ ngơi. Là loài vật cực kỳ nhanh nhẹn và cảnh giác, có thể chạy với tốc độ lên đến 80 km/h (50 mph), vẫy đuôi hay hất đầu.[19] Một phân tích hoạt động của linh dương đầu bò xanh tại vườn quốc gia Serengeti cho thấy loài này dành hơn nửa tổng thời gian nhằm nghỉ ngơi, 33% để gặm cỏ, 12% cho di chuyển (chủ yếu đi bộ) và một số ít dành cho tương tác xã hội. Tuy nhiên, cũng có sự thay đổi giữa độ tuổi khác nhau và nhóm giới tính.[6]

Linh dương đầu bò thường nghỉ ngơi gần thành viên khác của nhóm và di chuyển theo kết cấu lỏng lẻo. Con đực tạo thành đàn đơn thân, chúng có thể phân biệt với nhóm chưa trưởng thành do số lượng hoạt động thấp và khoảng cách giữa các cá thể. Khoảng 90% con non đực tham gia đàn đơn thân trước khi mùa giao phối đến. Linh dương đực chiếm lãnh thổ khi 4 hoặc 5 năm tuổi, rất ồn ào (đáng chú ý nhất ở linh dương đầu bò râu trắng phía tây) và năng động. Con đực chịu gần gũi nhau và 1 cây số vuông đồng bằng có thể chứa 270 con đực. Hầu hết lãnh thổ có tính tạm thời, ít hơn một nửa số linh dương đực giữ lãnh thổ vĩnh viễn. Nhìn chung, số linh dương đầu bò nghỉ ngơi trong nhóm khoảng một vài đến hàng ngàn vào ban đêm, khoảng cách tối thiểu 1–2 m (3,3–6,6 ft) giữa các cá thể (mặc dù linh dương mẹ và con non có thể vẫn còn tương tác).[6] Chúng là con mồi chính của sư tử, linh cẩu, và cá sấu sông Nile.[19]

Con đực đánh dấu ranh giới lãnh thổ bằng đống phân cùng chất tiết ra từ tuyến mùi hơi. Vùng lãnh thổ được quảng bá bởi hành vi cũng như chất đánh dấu. Ngôn ngữ cơ thể được con đực chiếm lãnh thổ sử dụng có thể là đứng cao theo tư thế thẳng đứng, cào mặt đất hay đấu sừng, đại tiện thường xuyên, cán, rống lên, phát ra âm thanh "ga-noo". Khi cạnh tranh lãnh thổ, con đực rống to, cào đất, xô đẩy chuyển động sừng của chúng, thực hiện hành vi phô trương xâm lược khác.[6]

Chế độ ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò xanh là loài động vật ăn cỏ, kiếm ăn chủ yếu tại đồng cỏ ngắn thường mọc tại nơi có ánh sáng, hay đất kiềm được tìm thấy ở đồng cỏ xavan và đồng bằng.[6] Miệng rộng ăn điều chỉnh một lượng lớn cỏ ngắn [6][26] và ăn cả ban ngày lẫn ban đêm. Khi cỏ khan hiếm, linh dương cũng ăn tán lá cây bụi hay cây xanh.[21] Linh dương đầu bò thường kết hợp với ngựa vằn đồng bằng, ngựa ăn tán cỏ trên, ít dinh dưỡng, lộ ra nguyên liệu xanh hơn, thấp hơn mà linh dương thích.[30] Bất cứ khi nào có thể, linh dương đầu bò thích uống nước hai lần mỗi ngày [19]. Do nhu cầu thường xuyên đối với nước, chúng thường sinh sống tại đồng cỏ ẩm với nguồn nước có sẵn. Mặc dù vậy, chúng cũng có thể tồn tại trong hoang mạc Kalahari khô cằn, nơi hút đủ nước từ dưa hấu, rễ hay củ trữ nước.[20]

Trong một nghiên cứu về thói quen ăn uống linh dương đầu bò, con vật ăn 3 loại cỏ chiếm ưu thế của khu vực, cụ thể là: Themeda triandra, Digitaria macroblepharaPenisetum mezianum. Thời gian dành cho gặm cỏ tăng khoảng 100% trong suốt mùa khô. Mặc dù lựa chọn chế độ ăn uống vẫn như nhau trong cả hai mùa khô lẫn mùa mưa, linh dương đều chọn lọc hơn vào thời điểm về sau.[31]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò non tại công viên quốc gia Kruger, Nam Phi

Linh dương đầu bò xanh đực thành thục vào khoảng 2 năm tuổi trong khi linh dương cái có thể thụ thai khi 16 tháng tuổi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ.[6][21] Tuy nhiên, hầu hết linh dương cái không bắt đầu sinh cho đến 1 năm sau đó. Mùa giao phối, kéo dài trong khoảng 3 tuần, trùng với thời điểm cuối mùa mưa. Điều này có nghĩa con vật đang ở trong tình trạng tốt, ăn cỏ mới mọc rất dinh dưỡng. Tỷ lệ thụ thai thường cao đến 95%. Mùa giao phối, hay động dục, thường bắt đầu vào đêm trăng tròn, cho thấy chu kỳ mặt trăng ảnh hưởng đến sinh sản. Tại thời điểm này, testosterone sản xuất đỉnh điểm ở con đực, dẫn đến tăng cường tiếng kêu và hành vi chiếm lãnh thổ. Hoạt động của con đực kích thích tình dục cũng có thể kích thích con cái đi vào động dục.[6]

Khi chúng khoanh vùng lãnh thổ và cạnh tranh con cái, con đực phô trương sự ganh đua. Khi đụng độ, chúng đối mặt với nhau, uốn đầu gối, xô đẩy giá sừng. Sự phô trương cá nhân chi li được thực hiện trong quá trình cạnh tranh. Chúng có thể rống lên, khịt mũi và húc sừng xuống mặt đất. Sau khi quyền thống trị được thiết lập, mỗi con đực cố gắng thu hút con cái vào phạm vi của mình.[32] Trong cuộc tán tỉnh, đi tiểu và căng thấp là những hoạt động phổ biến và con đực sớm cố gắng gắn kết con cái. Một con cái vẫy đuôi sang một bên, đứng yên trong khi giao hợp diễn ra. Giao phối có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, có thể diễn ra hai lần hoặc nhiều lần trong vòng một phút. Con đực không ăn cũng không nghỉ khi một con cái hiện diện tại lãnh thổ của nó. Trong thời gian này, linh dương cái gần gũi với linh dương đực, thường xoa đầu nó trên thân con đực và đánh hơi dương vật con đực. Lúc vào mùa, một con cái có thể ghé thăm một số vùng lãnh thổ và giao phối với nhiều con đực khác nhau.[6]

Thai kỳ khoảng 8 tháng rưỡi và giữa 80 đến 90% con non được sinh ra trong một khoảng thời gian 3 tuần. Linh dương cái sinh vào giữa một bầy hơn là một mình, thường vào giữa ngày. Điều này cho phép thời gian dành cho linh dương sơ sinh trở nên vững chân trước khi màn đêm buông xuống, tránh động vật săn mồi hoạt động. Linh dương con nặng khoảng 19 kg (42 lb) khi sinh, thường có thể đứng riêng một mình trong vòng một vài phút sau sinh. Để thoát khỏi động vật ăn thịt, con non vẫn gần gũi với linh dương mẹ trong một thời gian đáng kể, có thể tiếp tục bú sữa cho đến khi con non mùa năm sau gần sinh ra. Một số linh dương non rời mẹ sau 8 tháng và tạo thành bầy cùng số linh dương chưa trưởng thành khác. Trong bầy linh dương cái lớn, 80% linh dương non sống sót trong tháng đầu tiên, so với tỷ lệ sống 50% ở đàn nhỏ hơn.[6][32]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm, linh dương đầu bò tham gia hành trình di cư đầy nguy hiểm vượt sông Mara đầy cá sấu
Cá sấu phục kích, ăn thịt linh dương trên sông Mara

Linh dương đầu bò xanh có nguồn gốc từ Kenya, Tanzania, Botswana, Zambia, Zimbabwe, Mozambique, Nam Phi, SwazilandAngola. Hôm nay, loài đã tuyệt chủng tại Malawi, nhưng đã được tái nhập thành công vào trong Namibia.[1]

Linh dương đầu bò xanh chủ yếu được tìm thấy ở vùng đồng bằng cỏ ngắn giáp thảo nguyên mọc cây keo thân bụi bao phủ ở miền nam và miền đông châu Phi, phát triển mạnh tại những vùng không quá ẩm ướt hoặc không quá khô cằn. Chúng có thể được tìm thấy trong môi trường sống khác nhau từ khu vực chăn thả quá mức với cây bụi rậm rạp đến rừng thưa thoáng ngập lũ. Cây xanh thuộc chi BrachystegiaCombretum phổ biến ở các khu vực này.[26] Linh dương đầu bò xanh có thể chịu đựng vùng miền khô hạn miễn nguồn cung cấp nước sinh hoạt có sẵn, thường khoảng cách trong khoảng 15–25 km (9,3–15,5 mi). Giới hạn phía nam của linh dương đầu bò xanh dừng lại ở sông Orange, trong khi giới hạn phía tây giáp hồ Victorianúi Kenya. Phạm vi không bao gồm vùng núi hay đồng cỏ ôn đới.[6] Số lượng hiếm linh dương đầu bò được tìm thấy ở độ cao vượt quá 1.800–2.100 m (5.900–6.900 ft).[1] Ngoại lệ, một quần thể nhỏ linh dương đầu bò Cookson phân bố tại thung lũng Luangwa (Zambia), linh dương đầu bò vắng mặt tại miền đất ẩm ướt thuộc đất nước thảo nguyên phía nam, đặc biệt không có mặt trong rừng miombo.[6]

Mỗi năm, vài quần thể linh dương đầu bò xanh Đông Phi tham gia vào một cuộc di cư đường dài, có vẻ như thời gian trùng với khuôn mẫu lượng mưa và cỏ mọc hàng năm. Thời gian di cư theo cả hai hướng có thể thay đổi đáng kể từ năm này sang năm khác. Vào cuối mùa mưa, linh dương di chuyển đến khu vực mùa khô nhằm đáp ứng tình trạng thiếu nước uống. Khi mùa mưa bắt đầu lại một vài tháng sau đó, chúng di cư trở lại phạm vi mùa mưa.[33]

Đôi khi hành trình di cư của hàng triệu linh dương đầu bò xanh được gọi là "cuộc di cư vòng tròn" vì chúng di chuyển quanh vùng Serengeti theo mùa mưa nhằm tìm kiếm đồng cỏ xanh tươi với quãng đường di chuyển lên tới 800 – 1.600 km. Trong hành trình này, chúng phải vượt qua dòng sông Mara đầy rẫy cá sấu sông Nile hung hãn chờ sẵn. Hàng trăm nghìn cá thể linh dương đầu bò chết mỗi năm trong đợt di cư nổi tiếng này.

Đe dọa và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn lớn với số lượng triệu cá thể tại khu bảo tồn Ngorongoro

Linh dương đầu bò xanh là con mồi cho sư tử, báo hoa, chó hoang châu Phi, linh cẩucá sấu sông Nile. Động vật ăn thịt là nguyên nhân chính gây tử vong. Chúng cũng dễ nhiễm dịch bệnh, đó có thể dẫn đến suy giảm số lượng.[21] Yếu tố chính liên quan đến con người ảnh hưởng quần thể gồm có phá rừng quy mô lớn, suy kiệt nguồn nước, mở rộng khu định cư và săn trộm. Bệnh của gia súc nuôi nhà như bệnh trùng mũi khoan châu Phi có thể truyền đến động vật hoang dã, gây thiệt hại.[1] Công tác lắp dựng hàng rào gây cản trở đường di trú truyền thống giữa những phạm vi mùa ẩm ướt và mùa khô dẫn đến sự kiện tử vong hàng loạt khi linh dương bị cắt đứt nguồn nước cùng với khu vực gặm cỏ tốt mà chúng tìm kiếm trong thời kỳ hạn hán.[1] Một nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến quần thể linh dương đầu bò tại hệ sinh thái Maasai Mara tiết lộ rằng quần thể đã giảm mạnh số lượng khoảng 80% so với 119.000 cá thể vào năm 1977 xuống còn 22.000 cá thể khi 20 năm sau đó. Nguyên nhân chính được cho là do sự mở rộng nông nghiệp, dẫn đến mất đi đồng cỏ ẩm ướt và phạm vi sinh sản, kiếm ăn truyền thống.[34]

Tổng số linh dương đầu bò xanh ước tính được khoảng 1.550.000. Xu hướng số lượng tổng thể ổn định, số lượng tại vườn quốc gia Serengeti (Tanzania) tăng lên khoảng 1.300.000. Phạm vi mật độ quần thể từ 0.15/km2 tại công viên quốc gia HwangeEtosha đến 35/km2 tại công viên quốc gia miệng núi lửa Ngorongoro và Serengeti, nơi chúng phong phú nhất. Linh dương đầu bò xanh cũng đã được đưa vào một số trang trại thú săn tư nhân, khu dự trữ, khu vực bảo vệ.[35] Nhờ đó, IUCN xếp linh dương đầu bò xanh là loài ít quan tâm. Tuy nhiên, số lượng linh dương đầu bò râu trắng phương đông (C. t. albojubatus) đã cho thấy một sự suy giảm số lượng đáng kể đến mức hiện nay chỉ còn 6.000 đến 8.000 cá thể, điều này gây ra một số mối quan ngại.[1]

Sử dụng và tương tác với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong những loài động vật ăn cỏ lớn tại miền nam và miền đông châu Phi, linh dương đầu bò xanh đóng một vai trò quan trọng cho hệ sinh thái và là con mồi chủ yếu cho động vật ăn thịt lớn như sư tử. Đó là một trong những loài động vật hút khách du lịch đến khu vực này để quan sát trận đấu lớn, như vậy có tầm quan trọng kinh tế lớn của khu vực.[21] Linh dương đầu bò xanh theo truyền thống đã bị săn bắt lấy da và thịt. Da là mặt hàng thuộc da chất lượng tốt mặc dù thịt thô, khô và khá khó ăn.[36]

Tuy nhiên, linh dương đầu bò xanh cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Chúng có thể cạnh tranh với vật nuôi nhà nhiều thứ như cỏ xanh, nước và thậm chí có thể truyền bệnh hiểm nghèo như dịch tả trâu bò cho bò nhà, lan truyền dịch bệnh giữa các con vật. Linh dương cũng có thể lây lan bọ ve, giun phổi, sán dây, ruồi hay ký sinh giun dẹp.[37]

Một phiến đá khắc cổ xưa trên đá bảng miêu tả một con vật rất giống với linh dương đầu bò xanh được khai quật. Có niên đại khoảng 3000 năm trước Công nguyên, được tìm thấy tại Hierakonopolis (Nekhen), nơi đã từng là thủ đô tôn giáo - chính trị của Thượng Ai Cập tại thời điểm đó. Đây có thể là bằng chứng cho thấy loài động vật này từng sống tại Bắc Phi và có quan hệ với người Ai Cập cổ đại.[26]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Connochaetes taurinus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2010.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010.  Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ Pickering, J. (tháng 10 năm 1997). “William J. Burchell's South African mammal collection, 1810–1815”. Archives of Natural History 24 (3): 311–26. doi:10.3366/anh.1997.24.3.311. ISSN 0260-9541. 
  3. ^ a ă Grubb, P. (2005). “Order Artiodactyla”. Trong Wilson, D.E.; Reeder, D.M. Mammal Species of the World: A Taxonomic and Geographic Reference (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 676. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  4. ^ Benirschke, K. “Wildebeest, Gnu”. Comparative Placentation. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  5. ^ “Taurus”. Encyclopaedia Britannica. Merriam-Webster. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Estes, R. D. (2004). The Behavior Guide to African Mammals : Including Hoofed Mammals, Carnivores, Primates (ấn bản 4). Berkeley: University of California Press. tr. 150–6. ISBN 0-520-08085-8. 
  7. ^ “Gnu”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  8. ^ Corbet, S.W.; Robinson, T.J. (1991). “Genetic divergence in South African Wildebeest: comparative cytogenetics and analysis of mitochondrial DNA”. The Journal of Heredity 82 (6): 447–52. PMID 1795096. 
  9. ^ “Zambezian and Mopane woodlands”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2006. 
  10. ^ Connochaetes taurinus. ITIS. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  11. ^ Grobler, J.P.; Rushworth, I.; Brink, J.S.; Bloomer, P.; Kotze, A.; Reilly, B.; Vrahimis, S. (5 tháng 8 năm 2011). “Management of hybridization in an endemic species: decision making in the face of imperfect information in the case of the black wildebeest—Connochaetes gnou”. European Journal of Wildlife Research 57 (5): 997–1006. doi:10.1007/s10344-011-0567-1. ISSN 1439-0574. 
  12. ^ Ackermann, R. R.; Brink, J. S.; Vrahimis, S.; De Klerk, B. (29 tháng 10 năm 2010). “Hybrid wildebeest (Artiodactyla: Bovidae) provide further evidence for shared signatures of admixture in mammalian crania”. South African Journal of Science 106 (11/12): 1–4. doi:10.4102/sajs.v106i11/12.423. 
  13. ^ De Klerk, B. (2008). An osteological documentation of hybrid wildebeest and its bearing on black wildebeest (Connochaetes gnou) evolution (Doctoral dissertation). 
  14. ^ Skinner, J. D.; Chimimba, C. T. (2005). The Mammals of the Southern African Subregion (ấn bản 3). Cambridge: Cambridge University Press. tr. 645–8. ISBN 978-0-521-84418-5. 
  15. ^ Wallace, C. (1978). “Chromosome analysis in the Kruger National Park: The chromosomes of the blue wildebeest Connochaetes taurinus”. Koedoe 21 (1): 195–6. doi:10.4102/koedoe.v21i1.974. 
  16. ^ a ă â Groves, C.; Grubbs, P. (2011). Ungulate Taxonomy. JHU Press. ISBN 978-1-4214-0329-8. 
  17. ^ a ă Hilton-Barber, B.; Berger, L. R. (2004). Field Guide to the Cradle of Humankind : Sterkfontein, Swartkrans, Kromdraai & Environs World Heritage Site (ấn bản 2). Cape Town: Struik. tr. 162–3. ISBN 1-77007-065-6. 
  18. ^ Bassi, J. (2013). Pilot in the Wild: Flights of Conservation and Survival. South Africa: Jacana Media. tr. 116–8. ISBN 978-1-4314-0871-9. 
  19. ^ a ă â b c d đ Huffman, B. Connochaetes taurinus : Brindled gnu, Blue wildebeest”. Ultimate Ungulate. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  20. ^ a ă “Blue wildebeest”. Wildscreen. ARKive. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  21. ^ a ă â b c d đ Geraci, G. Connochaetes taurinus : Blue wildebeest”. University of Michigan Museum of Zoology. Animal Diversity Web. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  22. ^ http://animals.nationalgeographic.com/animals/mammals/wildebeest/
  23. ^ Stuart, C.; Stuart, T. (2001). Field Guide to Mammals of Southern Africa (ấn bản 3). Cape Town: Struik. tr. 204. ISBN 1-86872-537-5. 
  24. ^ Unwin, M. (2011). Southern African Wildlife : A Visitor's Guide (ấn bản 2). Chalfont St. Peter: Bradt Travel Guides. tr. 83–5. ISBN 1-84162-347-4. 
  25. ^ “Wildebeest (Connochaetes taurinus)”. National Geographic. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  26. ^ a ă â b c d đ Kingdon, Jonathan (1989). East African Mammals : An Atlas of Evolution in Africa . London: Academic Press. tr. 525–38. ISBN 0-226-43725-6. 
  27. ^ O.A., Ryder; Byrd, M.L. (1984). One Medicine: A Tribute to Kurt Benirschke, Director Center for Reproduction of Endangered Species Zoological Society of San Diego and Professor of Pathology and Reproductive Medicine University of California San Diego from his Students and Colleagues. Berlin, Heidelberg: Springer. tr. 296–308. ISBN 978-3-642-61749-2. 
  28. ^ Horak, I G; De Vos, V; Brown, M R (1983). “Parasites of domestic and wild animals in South Africa. XVI. Helminth and arthropod parasites of blue and black wildebeest (Connochaetes taurinus and Connochaetes gnou).”. The Onderstepoort journal of veterinary research 50 (4): 243–55. PMID 6676686. 
  29. ^ Horak, I G; Golezardy, H.; Uys, A.C. (2006). “The host status of African buffaloes, Syncerus caffer, for Rhipicephalus (Boophilus) decoloratus”. Onderstepoort Journal of Veterinary Research 73 (3): 193–8. doi:10.4102/ojvr.v73i3.145. PMID 17058441. 
  30. ^ Pastor, J.; Cohen, Y.;Hobbs, T. (2006). “The roles of large herbivores in ecosystem nutrient cycles”. Trong Danell, K. Large Herbivore Ecology, Ecosystem Dynamics and Conservation. Cambridge University Press. tr. 295. ISBN 978-0-521-53687-5. 
  31. ^ Ego, W. K.; Mbuvi, D. M.; Kibet, P. F. K. (tháng 3 năm 2003). “Dietary composition of wildebeest (Connochaetes taurinus), kongoni (Alcephalus buselaphus) and cattle (Bos indicus), grazing on a common ranch in south-central Kenya”. African Journal of Ecology 41 (1): 83–92. doi:10.1046/j.1365-2028.2003.00419.x. 
  32. ^ a ă Moss, C. Portraits in the Wild: Behavior studies of East African mammals. Boston: Houghton Mifflin Company. tr. 167. ISBN 978-0-226-54233-1. 
  33. ^ Thirgood, S.; Mosser, A.; Tham, S.; Hopcraft, G.; Mwangomo, E.; Mlengeya, T.; Kilewo, M.; Fryxell, J.; Sinclair, A. R. E.; Borner, M. (2004). “Can parks protect migratory ungulates? The case of the Serengeti wildebeest”. Animal Conservation 7 (2): 113–20. doi:10.1017/S1367943004001404. 
  34. ^ Ottichilo, Wilber K.; de Leeuw, Jan; Prins, Herbert H.T. (tháng 2 năm 2001). “Population trends of resident wildebeest (Connochaetes taurinus hecki (Neumann)) and factors influencing them in the Masai Mara ecosystem, Kenya”. Biological Conservation 97 (3): 271–82. doi:10.1016/S0006-3207(00)00090-2.  Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  35. ^ East, R.; Group, the IUCN/SSC Antelope Specialist (1999). African Antelope Database 1998. Gland, Switzerland: The IUCN Species Survival Commission. tr. 212. ISBN 2-8317-0477-4.  Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  36. ^ Nowak, R. M. (1999). Walker's Mammals of the World (ấn bản 6). Baltimore, Maryland: Johns Hopkins University Press. tr. 1184–6. ISBN 0-8018-5789-9. 
  37. ^ Talbot, L. M.; Talbot, M. H. (1963). Wildlife Monographs:The Wildebeest in Western Masailand, East Africa. National Academies. tr. 20–31. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]