Lợn bướu thông thường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lợn bướu thông thường
Lascar Warthog - Giraffe Centre (4540816644).jpg
Lợn bướu đực tại khu bảo tồn Tswalu Kalahari, Nam Phi.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Artiodactyla
Họ (familia)Suidae
Chi (genus)Phacochoerus
Loài (species)P. africanus
Danh pháp hai phần
Phacochoerus africanus
(Gmelin, 1788)[2]
  Phân bố của lợn bướu thông thường   Phạm vi có thể tồn tại hoặc ghi chép ngẫu nhiên
  Phân bố của lợn bướu thông thường
  Phạm vi có thể tồn tại hoặc ghi chép ngẫu nhiên
Phân loài
4 sspp.; xem văn bản

Lợn bướu thông thường (danh pháp hai phần: Phacochoerus africanus) là một loài lợn hoang thuộc họ Lợn, bộ Artiodactyla. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788,[2] chúng thường sinh sống ở thảo nguyên, xavan, rừng thưa ở châu Phi hạ Sahara.[1][3] Trước đây chúng bị xếp vào một phân loài của P. aethiopicus, nhưng ngày nay tên khoa học chỉ hạn chế trong lợn nanh sừng hoang mạc của bắc Kenya, Somalia, và đôngn Ethiopia.[4]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sọ

Lợn bướu thông thường là một loài có kích thước trung bình, với chiều dài đầu và thân từ 0,9 đến 1,5 m (3,0 đến 4,9 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ], và chiều cao vai từ 63,5 đến 85 cm (25,0 đến 33,5 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]. Con cái, câng nặng 45 đến 75 kg (99 đến 165 lb), hường nhỏ hơn một chút và nhẹ cân hơn con đực, với cân nặng 60 đến 150 kg (130 đến 330 lb).[5][6] Lợn bướu thông thường được nhận dạng bởi hai cặp ngà nhô ra khỏi miệng và cong lên. Cặp dưới, ngắn hơn nhiều so với cặp trên, trở nên sắc như dao cạo bằng cách cọ sát vào cặp trên mỗi lần mở miệng và đóng lại. Phần trên răng nanh có thể phát triển dài 25,5 cm (10,0 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] và có hình elip rộng mặt cắt ngang, sâu khoảng 4,5 cm (1,8 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] và rộng khoảng 2,5 cm (0,98 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]. Một ngà cong 90° hay hơn từ chân, và sẽ không nằm thẳng trên bàn, vì nó cong một chút về phía sau khi nó phát triển. Ngà không được sử dụng để đào đất,[7] nhưng được sử dụng để chiến đấu với những con lợn khác, và trong phòng thủ chống lại kẻ săn mồi - bộ dưới có thể gây ra vết thương nghiêm trọng.

Ngà của lợn bướu thông thường được lấy từ răng nanh mọc liên tục. Ngà, đặc biệt là bộ trên, hoạt động theo cách tương tự như ngà voi với tất cả các thiết kế được thu nhỏ lại. Ngà được chạm khắc chủ yếu cho mục đích thương mại du lịch ở phía đông và phía nam Châu Phi.

Đầu của lợn bướu thông thường là lớn, với một bờm xuống cột sống đến giữa lưng.[5] Lông thưa thớt che kín cơ thể. Màu của nó thường là đen hoặc nâu. Đuôi dài và kết thúc với một búi tóc. Các warthog thông thường không có mỡ dưới da và bộ lông thưa thớt, khiến chúng dễ bị mẫn cảm với nhiệt độ môi trường khắc nghiệt.[5]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cumming, D.H.M. (2008). Phacochoerus africanus. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 5 April 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ a ă Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Phacochoerus africanus”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  4. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  5. ^ a ă â Creel, Eileen (11 tháng 3 năm 2005). ''Phacochoerus africanus'' common warthog”. Animaldiversity.ummz.umich.edu. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2013. 
  6. ^ “Common Warthog ''Phacochoerus africanus''” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2013. 
  7. ^ Wilson, Don E.; Mittermeier, Russell A. biên tập (2011). Handbook of the Mammals of the World, Vol. 2. Lynx Edicions. tr. 277. ISBN 8496553779.