Trâu rừng Tây Tạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Linh ngưu)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trâu rừng Tây Tạng
Takin 1427.JPG
Trâu rừng Tây Tạng vàng
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Artiodactyla
Họ (familia)Bovidae
Phân họ (subfamilia)Caprinae
Chi (genus)Budorcas
Hodgson, 1850
Loài (species)B. taxicolor
Danh pháp hai phần
Budorcas taxicolor
Hodgson, 1850
Phạm vi phân bố của Trâu rừng Tây Tạng
Phạm vi phân bố của Trâu rừng Tây Tạng
Phân loài

Trâu rừng Tây Tạng, hay thường gọi là dê rừng Tây Tạng hay Linh ngưu (tiếng Trung Quốc: 羚牛, Hán Việt: Linh ngưu, chữ Tạng: ར་རྒྱ་; Wylie: ra rgya), danh pháp hai phần: Budorcas taxicolor, là một loài động vật có hình dạng nửa giống dê nửa giống trâu bò phân bố tại phía đông dãy Himalaya. Đây là loài động vật cấp một quốc gia được bảo vệ trọng điểm tại Trung Quốc. Tại Việt Nam, theo thông tư do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, loài này còn có tên là trâu rừng Tây Tạng.[2]

Có 4 phân loài là: B. t. taxicolor, linh ngưu Mishmi; B. t. bedfordi, linh ngưu Thiểm Tây hoặc linh ngưu vàng; B. t. tibetana, linh ngưu Tứ Xuyên hoặc Tây Tạng; và B. t. whitei, linh ngưu Bhutan. Trong quá khứ, Trâu rừng Tây Tạng được xếp chung với bò xạ hương trong tông Ovibovini, nghiên cứu ti thể gần đây phát hiện một mối quan hệ gần gũi hơn với Ovis (cừu). Tương đồng vật lý của loài với bò xạ hương là một ví dụ tiến hóa hội tụ.[3] Trâu rừng Tây Tạng là loài động vật biểu tượng quốc gia của Bhutan.[4]

Diện mạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trâu rừng Tây Tạng khi đứng có bờ vai cao khoảng 97 đến 140 cm (38 đến 55 in) và có chiều dài từ đầu đến hết thân tương đối ngắn 160–220 cm (63–87 in). Đuôi chỉ hơn 12 đến 21,6 cm (4,7 đến 8,5 in). Theo hầu hết các báo cáo, con đực lớn hơn một chút, báo cáo cân nặng 300–350 kg (660–770 lb) so với 250–300 kg (550–660 lb) ở con cái.[5] Tuy nhiên, theo Betham (1908), con cái lớn hơn, Trâu rừng Tây Tạng nuôi nhốt khoảng 322 kg (710 lb) ở con cái. Nguồn khác báo cáo Trâu rừng Tây Tạng có thể nặng tới 400 kg (880 lb) hoặc 600 kg (1.300 lb) trong vài trường hợp.[6][7]

Thay vì có các tuyến mùi cục bộ, Trâu rừng Tây Tạng tiết ra các chất nặng mùi dạng dầu trên toàn bộ cơ thể.[8] Đây có thể là lý do cho diện mạo căng phồng của khuôn mặt. Do đặc tính này, nhà sinh vật học George Schaller ví Trâu rừng Tây Tạng như là một con "nai sừng tấm bị ong đốt".[4]

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Trâu rừng Tây Tạng được tìm thấy từ thung lũng rừng rậm đến khu vực núi phủ cỏ, đá ở độ cao từ 1.000 đến 4.500 m trên mực nước biển. Linh ngưu Mishmi phân bố ở miền đông bang Arunachal Pradesh, trong khi linh ngưu Bhutan tại miền tây Arunachal Pradesh và Bhutan.[9] Khu bảo tồn sinh quyển Dihang-Dibang tại Arunachal Pradesh là nơi phân bố của cả linh ngưu Mishmi, thượng Siang (Kopu) và Bhutan.[10]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yanling, S., Smith, A.T. & MacKinnon, J. (2008). Budorcas taxicolor. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of vulnerable.
  2. ^ “Thông tư Ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2013.
  3. ^ Pamela Groves, Gerald F. Shields, 1997. CytochromeB Sequences Suggest Convergent Evolution of the Asian Takin and Arctic Muskox. Molecular Phylogenetics and Evolution, Volume 8, Issue 3, December 1997, Pages 363-374, ISSN 1055-7903, doi:10.1006/mpev.1997.0423.
  4. ^ a ă Tashi Wangchuk (2007). “The Takin - Bhutan's National Animal”. Trong Lindsay Brown, Stan Armington (biên tập). Bhutan. Lonely Planet. tr. 87. ISBN 978-1-74059-529-2. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  5. ^ WWF: Takin
  6. ^ “Budorcas taxicolor (takin)”. Animal Diversity Web. Truy cập 6 tháng 10 năm 2015.
  7. ^ Smith, A. T., Xie, Y. (eds.) (2008) A Guide to the Mammals of China. Princeton University Press, Princeton Oxforshire. Page 472.
  8. ^ Macdonald, D. (2001) The New Encyclopedia of Mammals. Oxford University Press, Oxford. via arkive.org
  9. ^ Choudhury, A.U. (2003). The Mammals of Arunachal Pradesh. Regency Publications, New Delhi. 140pp
  10. ^ Choudhury, A.U. (2010). Mammals and Birds of Dihang – Dibang Biosphere Reserve, North-east India. Lambert Academic Publishing, Saarbrücken, Germany. 104pp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]