Bước tới nội dung

Maher Zain

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Maher Zain
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữماهر زين
Tên khai sinhMaher Mustafa Maher Zain
ماهر مصطفى ماهر زين
Sinh16 tháng 7, 1981 (42 tuổi)
Tripoli, Liban
Nguyên quánThụy Điển
Thể loại
Nghề nghiệp
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • guitar
  • piano
  • keyboard
  • nhạc cụ gõ
  • synthesizer
Năm hoạt động2009–nay
Hãng đĩaAwakening
Rotana
Websitewww.maherzain.com

Maher Zain (tiếng Ả Rập: ماهر زين‎; sinh 16 tháng 7 năm 1981)[2] là một ca sĩ nhạc R&B, nhạc sĩ sáng tác bài hát[3] và nhà sản xuất âm nhạc người Thụy Điển gốc Liban. Anh phát hành album đầu tay Thank You Allah, một album thành công trên phạm vi quốc tế do Awakening Records sản xuất vào năm 2009. Anh phát hành album tiếp theo của mình Forgive Me vào tháng 4 năm 2012 với cùng công ty sản xuất và album thứ ba One vào năm 2016.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thank You Allah (2009)
  • Forgive Me (2012)
  • One (2016)

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Singles & Duets (2014)
  • The Best of Maher Zain Live & Acoustic (2018)

Album mini[sửa | sửa mã nguồn]

  • Love Will Prevail (2013)
  • Ramadan (2013)
  • Ramadan – Vocals Only Version (2014)
  • Nour Ala Nour (2021)

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Palestine Will Be Free" (2009)
  • "Insha Allah" (2010)
  • "The Chosen One"
  • "Freedom" (2011)
  • "Ya Nabi Salam Alayka"
  • "For The Rest Of My Life"
  • "Samih 2014"
  • "Nas Teshbehlena"
  • "A'amarona A'amalona" (2015)
  • "Rahmatun lil'Alameen" (2022)
  • "Eidun Mubarak" (2022)[4][5]

Sự nghiệp video[sửa | sửa mã nguồn]

Maher Zain tại buổi hòa nhạc từ thiện Tuisa ở Essen, Đức (2012)
  • 2009: Palestine Will Be Free
  • 2009: Subhan Allah
  • 2010: Insha Allah
  • 2010: The Chosen One
  • 2011: Freedom
  • 2011: Ya Nabi Salam Alayka
  • 2011: For the Rest of My Life
  • 2012: Number One For Me
  • 2012: So Soon
  • 2012: Guide Me All the Way
  • 2013: Love Will Prevail
  • 2013: Ramadan
  • 2014: Muhammad (P.B.U.H)
  • 2014: Nas Teshbehlana (tiếng Ả Rập: ناس تشبهلنا)
  • 2014: One Day
  • 2015: A'maroona A'maloona (tiếng Ả Rập: أعمارنا أعمالنا)
  • 2016: I am Alive (với Atif Aslam)
  • 2016: By my Side
  • 2016: Paradise
  • 2016: Peace Be Upon You
  • 2016: The Way of Love (với Mustafa Ceceli)
  • 2017: Close to You
  • 2017: As-subhu Bada (tiếng Ả Rập: الصبح بدا)
  • 2017: Kun Rahma (tiếng Ả Rập: كن رحمة)
  • 2017: Medina
  • 2018: Huwa AlQuran
  • 2019: Ala Nahjik Mashayt
  • 2019: Live It Up (hợp tác với Lenny Martinez)
  • 2019: Ummi
  • 2020: Antassalam
  • 2020: Asma Allah Alhusna (The 99 Names of Allah)
  • 2020: Break The Chains
  • 2020: Srebrenica
Góp mặt trong
  • 2011: I Believe (Irfan Makki hợp tác với Maher Zain) (trong album của Irfan Makki I Believe)
  • 2009 : Never Forget (Mesut Kurtis hợp tác với Maher Zain) (trong album của Mesut Kurtis Beloved)
  • 2014: So Real (Raef hợp tác với Maher Zain) (trong album của Raef The Path)
  • 2014: Eidun Saeed (Mesut Kurtis hợp tác với Maher Zain) (trong album của Mesut Kurtis Tabassam)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Richards, Anne R.; Omidvar, Iraj (2014). Muslims and American Popular Culture (bằng tiếng Anh). ABC-CLIO. tr. 366. ISBN 9780313379635.
  2. ^ Maher Zain [@MaherZain] (16 tháng 3 năm 2013). “It is not my birthday today! :) it is July 16... :))))” (Tweet) – qua Twitter.
  3. ^ “Muslim pop megastar Maher Zain sings for Syria aid”. BBC News. 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2014.
  4. ^ Eidun Mubarak (bằng tiếng Anh), 5 tháng 7 năm 2022, truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2022
  5. ^ Singles & Duets (bằng tiếng Anh), 17 tháng 6 năm 2015, truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2022

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]