Nội Thân vương Chikako

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hòa Cung Thân Tử Nội thân vương
和宮親子内親王
Nội thân vương Nhật Bản
Ngự đài sở nhà Tokugawa
Kazunomiya.jpg
Thông tin chung
Phu quânTokugawa Iemochi
Hậu duệKhông có
Tên đầy đủHòa Cung
Tước hiệuThân Tử Nội thân vương
Thụy hiệuTĩnh Khoan Viện cung
Thân phụNhân Hiếu Thiên hoàng
Thân mẫuHashimoto Tsuneko (Kiều Bản Hằng Tử)
Sinh(1846-07-03)3 tháng 7, 1846
Hoàng cung Kyoto, Kyoto, Nhật Bản
Mất2 tháng 9 năm 1877(1877-09-02) (31 tuổi)
Nơi mất: Hakone, Tanosawa, tỉnh Kanagawa, Nhật Bản
An táng: Tăng Thượng tự, Tokyo, Nhật Bản

Hòa Cung Thân Tử Nội thân vương (和宮親子内親王 (かずのみやちかこないしんのう); Kazu-no-Miya Chikako Naishinnō; sinh ngày 3 tháng 7 năm 1846, mất ngày 2 tháng 9 năm 1877) là chính thất của Shogun thứ 14 của Mạc phủ Tokugawa, Chinh Di Đại tướng quân Tokugawa Iemochi. Theo truyền thống giới quý tộc thành Edo, bà đã đổi tên thành Tĩnh Khoan viện Cung (静寛院宮; Seikan'in-no-Miya) và sống như một tín đồ Phật giáo sau khi chồng qua đời.

Bà được được biết đến với tài năng thư đạo tuyệt vời và cũng là một nhà thơ kiệt xuất trong thể loại waka (和歌; hòa ca).[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tĩnh Khoan viện Cung hồi nhỏ tên là Hòa Cung (和宮; Kazu-no-Miya), sinh ngày 10 tháng 5, năm Hoằng Hóa thứ 3 (tức 3 tháng 7, năm 1846). Bà là người con thứ 8 và cũng là con út của Nhân Hiếu Thiên hoàng với người thiếp của ông, Kiều Bản Hằng Tử (橋本恒子; Hashimoto Tsuneko), về sau đã đổi tên thành Quang Hành viện (觀行院; Kangyōin) sau khi chồng qua đời. Bà là em gái của Hiếu Minh Thiên hoàng[1]. Theo vai vế, Minh Trị Thiên hoàng là cháu trai của bà.

Một vài tháng trước khi Hòa Cung ra đời, ngày 26 tháng 01 năm Hoằng Hóa thứ 3 (tức 21 tháng 2 năm 1846), cha bà là Nhân Hiếu Thiên hoàng đột ngột qua đời[2]. Hòa Cung vốn dĩ sinh ngày 1 tháng 8 năm 1846, nhưng ngày sinh của bà được chuyển bởi ngày đó được coi là một ngày xấu.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1851, Hòa Cung công chúa đính hôn với hoàng thân Arisugawa-no-Miya Taruhito (有栖川宮熾仁親王; Hữu Tê Xuyên Cung Xí Nhân thân vương). Tuy nhiên, hôn ước này sau đó đã bị phá vỡ khi triều đình cần một ai đó cho một cuộc hôn nhân chính trị với Mạc phủ Tokugawa để thúc đẩy hòa giải giữa triều đình và Mạc phủ, nhưng ứng cử viên ban đầu cho cuộc hôn nhân này đã qua đời vào năm 1861. Mạc phủ đề xuất một cuộc hôn nhân hoàng gia giữa Hòa Cung và Shogun Tokugawa Iemochi.

Ban đầu, Hòa Cung không đồng ý, Thiên hoàng đã từ chối yêu cầu của Mạc phủ, nói rằng Hòa Cung đã có hôn ước và bà không muốn rời khỏi Kyoto. Và rằng, giống như bất kỳ người phụ nữ nào ở Nhật Bản, em gái của mình không bắt buộc phải kết hôn với bất cứ ai, Hòa Cung cũng không muốn kết hôn theo những quy tắc của hậu cung Mạc phủ. Tuy nhiên, đề xuất này đã bị một số người phản đối kịch liệt, kể cả mẹ Hòa Cung cũng như một số chức sắc trong triều. Họ đã thuyết phục cả Thiên hoàng và Hòa Cung chấp nhận yêu cầu của Mạc phủ. Cuối cùng, Thiên hoàng đã chấp nhận đề nghị, đổi lại, Mạc phủ sẽ phải bác bỏ Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại với Hoa Kỳ, và trở về với chính sách "bế quan tỏa cảng" trước đó.

Mọi việc được giải quyết khi triều đình nói rằng, nếu Hòa Cung tiếp tục từ chối chấp nhận cuộc hôn nhân, Hiếu Minh Thiên hoàng sẽ phải thoái vị, một thành viên khác của Hoàng gia sẽ được chọn để thay thế, và Hòa Cung sẽ phải trở thành một nữ tín đồ Phật giáo. Dưới áp lực từ phía gia đình và cũng không muốn chịu trách nhiệm cho sự thoái vị của anh trai hay phải đi tu, Hòa Cung cuối cùng đã đồng ý, nhưng với một số điều kiện, trong đó có việc lối sống của bà ở Edo sẽ vẫn giống như ở trong cung và bà được trở lại kinh đô vào ngày cúng giỗ cha mình. Hiếu Minh Thiên hoàng cũng đã thêm các điều kiện, yêu cầu Mạc phủ phải thi hành các vấn đề đối ngoại, xây dựng một chiến lược để cải thiện đời sống của các nghệ nhân không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu nước ngoài giá rẻ, ngoài ra, các điều kiện của công chúa Kazu phải được đáp ứng.

Năm 1861, Hiếu Minh Thiên hoàng ban chỉ, sắc phong Hòa Cung tước Nội Thân vương (内親王), hiệu Thân Tử Nội Thân vương (親子内親王). Năm sau (1862), Hòa Cung, Quang Hành viện (mẹ của bà) cùng cận thần của mình là Niwata Tsuguko với một số đại biểu tham dự lễ cưới ở lâu đài Edo. Do lo ngại về các cuộc tấn công bởi những người phản đối chính sách của Mạc phủ Tokugawa, lực lượng an ninh từ hàng chục phiên đã được huy động để bảo vệ đám rước dâu.

Lễ cưới được tổ chức vào ngày 11 tháng 2 năm đó. Buổi lễ này khác tất cả lễ cưới của các tướng quân Tokugawa đời trước khi cô dâu là một người đã được phong tước Nội Thân vương trước khi rời khỏi Kyoto. Hòa Cung sau đó sống tại hậu cung Edo cùng chồng và mẹ chồng, với danh vị Ngự đài sở.

Trong hậu cung Edo, Hòa Cung luôn giữ những phong tục của cung điện Hoàng gia, vì thế đã gây ra nhiều va chạm đáng kể với Thực Thành viện (実成院; Jitsujō'in - mẹ của tướng quân Tokugawa Iemochi), nhưng hai người đã hòa giải sau đó. Hòa Cung đã có được một cuộc hôn nhân tốt đẹp với chồng mình. Họ là cặp vợ chồng tình cảm nhất trong số tất cả các tướng quân Tokugawa, và tướng quân Iemochi không lấy bất kỳ người vợ lẽ nào. Mọi người gọi bà là "Kazu-no-Miya-sama" (Hoà Cung dạng), khác với truyền thống Mạc phủ: phải gọi vợ của Tướng quân là "Midai-sama" (Ngự đài dạng).

Quả phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1866, tướng quân Iemochi qua đời, đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân ngắn ngủi. Ngày 20 tháng 7 năm đó, theo thông lệ của một quý tộc Edo, Hòa Cung xuống tóc, đổi tên thành Tĩnh Khoan Viện cung (静寛院宮) và lui về sống như một tín đồ Phật giáo. Vài tuần sau, anh trai bà Hiếu Minh Thiên hoàng cũng qua đời.

Cuộc hôn nhân giữa Tĩnh Khoan Viện cung và Iemochi không để lại hậu duệ nào cả, và theo di chúc của Iemochi thì Tokugawa Iesato sẽ kế vị chức vị Tướng quân. Thế nhưng, các vị cận thần của Tướng quân đã khuyên giải Tĩnh Khoan Viện cung cùng Thiên Chương viện lập Tokugawa Yoshinobu lên thay, cũng là vị Tướng quân cuối cùng của nhà Tokugawa.

Suốt cuộc Minh Trị Duy tân, Tĩnh Khoan Viện cung cùng Thiên Chương viện được nhắc đến trong sự kiện Sự sụp đổ của thành Edo, sự kiện đã kết thúc chính quyền Tokugawa để chuyển giao quyền lực cho phe ủng hộ Thiên Hoàng mà không gây ra bất cứ đổ máu nào. Gia tộc Tokugawa tiếp tục việc thờ cúng tổ tiên qua từng thế hệ. Còn Tĩnh Khoan Viện cung trở lại Kyoto, nhưng về sau lại chuyển lại về Tokyo (tức thành Edo cũ) bởi sự thuyết phục của người cháu là Minh Trị Thiên hoàng.

Bà qua đời vào ngày 2 tháng 9, năm 1877 và được an táng tại Zōjō-ji (Tăng Thượng tự; 増上寺) của Tokyo, hợp táng cùng Tokugawa Iemochi. Toàn pháp hiệu của bà là Tĩnh Khoan viện tặng Nhất phẩm Nội thân vương Hảo Dự Hòa Thuận Trinh Cung Đại Tỉ (靜寬院贈一品內親王好譽和順貞恭大姊).

Hư cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tĩnh Khoan Viện cung xuất hiện ở một số tác phẩm phim truyền hình của đài NHK:

  • Tobu ga Gotoku (翔ぶが如く) năm 1990 của đài NHK, do nữ diễn viên Suzuki Kyōka thủ vai.
  • Tokugawa Yoshinobu (德川慶喜) năm 1998 của đài NHK, do nữ diễn viên Megumi Kobashi thủ vai.
  • Atsuhime (篤姬 - chiếu tại Việt Nam với tên Công chúa Atsu) năm 2008 của đài NHK, do nữ diễn viên Horikita Maki thủ vai.

Ngoài ra còn kể đến Ōoku (大奥 - 1968), Ōoku (大奥 - 1983) của đài truyền hình Kansai; Ōoku (大奥 - 2003) - một bộ phim truyền hình nằm trong series Ōoku nổi tiếng của FujiTV; manga JIN-仁-, chuyển thể thành phim năm 2011 bởi TBS (Tokyo Broadcating System).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nussbaum, Louis-Frédéric et al. (2005). Japan encyclopedia, p. 502; n.b., Louis-Frédéric is pseudonym of Louis-Frédéric Nussbaum, see Deutsche Nationalbibliothek Authority File.
  2. ^ Nussbaum, p. 716.